22:16:26 , 29/5/2017

Kế hoạch - Tài chính

Gia Lai: Kim ngạch xuất khẩu tăng 4,1%

Email In PDF.

Theo tin từ Sở Công thương Gia Lai, sau nhiều tháng liên tục giảm, trong tháng 4, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đã tăng nhẹ (ước thực hiện 34,4 triệu USD). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu đạt 125,7 triệu USD (đạt 31,42% kế hoạch), tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2015.
 

Ảnh: T.N
Ảnh: T.N

Nguyên nhân chủ yếu do kim ngạch xuất khẩu cao su và mì lát tăng so với cùng kỳ năm 2015, trong đó mặt hàng cao su tăng 72,92% về lượng, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 37,12%; mì lát tăng 2,23 lần về lượng, tăng 82,57% về giá trị. Riêng giá cao su và cà phê vẫn ở mức thấp (giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê là 1.525 USD/tấn, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2015, giá thu mua nội địa hiện nay ở mức 33.000-34.000 đồng/kg).

Theo Báo Gia Lai điện tử

 

Đưa thị trấn Chư Sê phát triển thành đô thị loại IV

Email In PDF.

Thị trấn Chư Sê là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, xã hội huyện Chư Sê, có diện tích 2.800,58 ha, dân số 27.782 người, 14 tổ dân phố và 13 thôn, làng. Mật độ dân số trên 992 người/km2, trong đó dân số khu vực trung tâm 22.954 người, mật độ là 2.371 người/km2.

ttchuse

Một góc thị trấn Chư Sê. Ảnh: Thanh Nhật

Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền nhân dân huyện Chư Sê nói chung và thị trấn Chư Sê nói riêng đã phát huy nội lực, chung sức chung lòng xây dựng thị trấn vươn lên đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Đó là tập trung khai thác mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Đến nay thị trấn Chư Sê đã cơ bản hội tụ đủ các điều kiện theo quy định của đô thị loại IV. Tiêu biểu là phát triển không gian và lãnh thổ đô thị theo các hành lang kinh tế, trong đó có hành lang kinh tế theo hướng Bắc-Nam, nối liền giữa TP. Pleiku với thị trấn Chư Sê, đưa huyện Chư Sê trở thành vùng kinh tế động lực phía Nam của tỉnh. Tăng trưởng kinh tế thị trấn Chư Sê năm 2011 là 23%, năm 2012 là 24,5% và năm 2013 là 24%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 đạt 76 tỷ đồng, năm 2011 đạt 85,2 tỷ đồng, năm 2012 đạt 92 tỷ đồng và năm 2013 đạt 89 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt năm 2011 là 28,5 triệu đồng, năm 2012 đạt 33,4 triệu đồng, năm 2013 khoảng 39,5 triệu đồng. Tỷ trọng công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tăng từ 35% năm 2010 lên 44% năm 2012, thương mại-dịch vụ tăng từ 37,5% năm 2010 lên 45% năm 2012, nông-lâm nghiệp giảm từ 27,5% xuống còn 11% năm 2012.

Hệ thống cơ sở hạ tầng đã và đang phát triển đa dạng và phong phú nhất là dịch vụ ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải. Mạng lưới thương mại dịch vụ trên địa bàn thị trấn Chư Sê được xây dựng và củng cố ngày càng chiếm vị trí quan trọng, có tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của thị trấn. Trên địa bàn có 1.300 hộ kinh doanh, 120 doanh nghiệp tư nhân, 8 chi nhánh ngân hàng đang hoạt động hiệu quả, số dư nợ hàng năm hơn 1.000 tỷ đồng. Có 4 khách sạn, 5 nhà nghỉ với tổng số 235 phòng nghỉ, 5 điểm karaoke, 2 điểm mát xa, 3 điểm vui chơi giải trí cho trẻ em. Ngoài ra, thị trấn còn có 3 chợ, 2 siêu thị và nhiều cơ sở dịch vụ khác.

ttchuse2


 Ảnh: Thanh Nhật

Cảnh quan đô thị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật được chỉnh trang. Với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội khá nhanh, kéo theo đời sống nhân dân thị trấn ngày càng được cải thiện. Nhu cầu xây dựng nhà ở của người dân cũng như đầu tư các công trình công cộng, phúc lợi xã hội trên địa bàn phát triển mạnh, từng bước hình thành diện mạo đô thị ngày một khang trang, hiện đại, góp phần nâng cao giá trị kiến trúc cảnh quan toàn đô thị. Nhà ở trên địa bàn thị trấn Chư Sê phổ biến là dạng nhà 2 đến 3 tầng dọc theo trục đường quốc lộ 14, quốc lộ 25 và các tuyến đường trong nội thị. Tại khu vực tập trung dân cư nhà ở kiên cố chiếm 94,66%, mật độ xây dựng khoảng 65 đến 85%.

Về giáo dục, hiện trên địa bàn có Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện, hệ thống trường phổ thông từ tiểu học đến THPT, trường Phổ thông Dân tộc Nội trú và các trường mầm non… Về y tế, có Bệnh viện Đa khoa huyện, trung tâm y tế của Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Sê, 1 trạm y tế thực hiện việc khám-chữa bệnh ban đầu cho nhân dân và các chương trình y tế quốc gia. Đến nay, 100% các hộ dân trong thị trấn đã được dùng điện. Nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn đang sử dụng là nguồn nước ngầm đạt tiêu chuẩn về chất lượng, nước được xử lý tại Trạm Quản lý và Phân phối nước sạch Chư Sê có công suất 2.000 m3/ngày đêm. Trên địa bàn thị trấn có Trung tâm Văn hóa-Thể dục Thể thao huyện, sân vận động, nhà thi đấu đa năng đạt tiêu chuẩn thi đấu cấp tỉnh, Công viên Văn hóa Kpă Klơng với khu nhà rông lớn biểu tượng của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, thư viện, siêu thị sách và nhiều hiệu sách tư nhân, các sân bóng đá mini nhân tạo, đài Truyền thanh-Truyền hình với bán kính phát sóng 30 km, phục vụ 24/24 giờ, 2 cổng chào điện tử hiện đại được lắp đặt đầu và cuối đường vào trung tâm thị trấn. Hệ thống thông tin, bưu chính viễn thông trên địa bàn phát triển khá mạnh.

Trong tương lai, huyện Chư Sê sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng các khu chức năng, dịch vụ đô thị xung quanh khu vực hành chính, dọc quốc lộ 14 và quốc lộ 25 và các đường chính nội thị. Triển khai các giải pháp đồng bộ trên các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị, công tác quản lý đô thị, phát triển nhà ở, khu thể thao vui chơi giải trí, khu thương mại, dịch vụ, nâng công suất Nhà máy nước Chư Sê lên 7.500 m3/ngày đêm, phấn đấu đến năm 2015 đạt tiêu chuẩn cấp nước 120 lít/người/ngày đêm... Thực hiện tốt về cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, điều hành phát triển kinh tế, ổn định xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn...

Theo Báo Gia Lai điện tử

 

Khó hoàn thành các mục tiêu chương trình MTQG đưa thông tin về cơ sở

Email In PDF.

Ngày 05/9/2012, Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG)  đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo  giai đoạn 2012 - 2015 tại Quyết định số 1212/QĐ-TTg với các nội dung: Tăng cường năng lực của cán bộ thông tin và truyền thông (TT&TT) cơ sở; tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống TT&TT cơ sở; tăng cường nội dung TT&TT về cơ sở với tổng mức kinh phí để thực hiện chương trình là 1.170 tỷ đồng để đạt được mục tiêu chung là xây dựng và củng cố hệ thống TT&TT cơ sở nhằm đảm bảo thông tin về các chính sách của Đảng và Nhà nước, thông tin phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật được đưa đến phục vụ người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo .... Tuy nhiên, đến hết năm 2013, nhiều nội dung của chương trình để đạt mục tiêu cụ thể đặt ra tại Gia Lai nói riêng  chưa thực hiện được, nhất là nội dung "Tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống TT&TT cơ sở".

ctmtqg

Theo kết quả điều tra hiện trạng phổ cập dịch vụ điện thoại, internet và nghe nhìn toàn quốc năm 2010 tại Gia Lai thì thực trạng về cơ sở vật chất, năng lực cán bộ làm công tác TT&TT và các nội dung thông tin ở cơ sở của tỉnh Gia Lai còn nhiều hạn chế. Hầu hết cán bộ làm công tác tuyên truyền ở cấp huyện, xã, thôn chưa qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về TT&TT. Một số kỹ năng như tổ chức khai thác và xử lý thông tin tuyên truyền, nghiệp vụ phát ngôn viên hoặc tuyên truyền viên, ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền hầu như chưa thực hiện được. Cơ sở vật chất, thiết bị máy móc phục vụ cho công tác TT&TT cơ sở còn thiếu nhiều, kỹ thuật lạc hậu, nhất là tại các đài truyền thanh cơ sở; toàn tỉnh chỉ có 67 xã/222 xã (phường, thị trấn) có đài truyền thanh cấp xã nhưng chỉ có 22 đài hoạt động thường xuyên, chủ yếu tập trung tại các phường, thị trấn. Các nội dung và phương pháp thông tin còn quá nghèo nàn, do đó phần lớn người dân chưa được cập nhật thông tin một cách thường xuyên, chưa nắm bắt được đầy đủ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua hệ thống thông tin truyền thông. Việc quản lý công tác thông tin và truyền thông tại cơ sở vì thế còn nhiều bất cập.

Mục tiêu cụ thể ghi tại Quyết định số 1212/QĐ-TTg nói trên là: Đảm bảo 100% số xã thuộc phạm vi chương trình có đội ngũ cán bộ thông tin và truyền thông cơ sở được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật vận hành, khai thác và sử dụng hiệu quả đài, trạm truyền thanh và các trang thiết bị tác nghiệp; Đảm bảo đầu tư thiết lập mới đài truyền thanh cho ít nhất 50% số xã chưa có đài truyền thanh thuộc phạm vi của Chương trình để đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho nhân dân, phù hợp với xu hướng đổi mới công nghệ, đảm bảo chất lượng dịch vụ; đảm bảo 100% xã thuộc Chương trình được cung cấp các dịch vụ thông tin tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ...

Tỉnh Gia Lai có 182 /222 xã (phường, thị trấn) thuộc phạm vi chương trình MTQG, trong đó có 128 xã chưa có đài truyền thanh; riêng mục tiêu này thì theo Chương trình được phê duyệt tại Quyết định số 1212/QĐ-TTg nói trên, đến hết năm 2015, phải đảm bảo ít nhất có 64 xã được thiết lập, đầu tư mới đài truyền thanh. Tuy vậy, đến hết năm 2013, trung ương mới chỉ cấp kinh phí để đầu tư mới 17 đài truyền thanh xã; dự kiến năm 2014, trung ương cấp kinh phí để đầu tư thêm 06 đài, nâng tổng số đài truyền thanh xã được đầu tư mới lên 23 đài, đạt 35,93% so với mục tiêu tối thiểu mà Quyết định 1212/QĐ-TTg đề cập, còn ít nhất 41 đài truyền thanh xã được đầu tư mới trong năm 2015, vì vậy nhiều khả năng mục tiêu đặt ra đối với chỉ tiêu đài truyền thanh xã của Chương trình MTQG đưa thông tin về cơ sở sẽ không đạt được. Năm 2014, trung ương không bố trí kinh phí để thực hiện các nội dung như tăng cường năng lực cán bộ thông tin và truyền thông, tăng cường nội dung thông tin và truyền thông về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới tại Gia Lai thì không những chỉ tiêu trên mà một số mục tiêu cụ thể khác đã đặt ra khó hoàn thành theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, TT&TT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển, quản lý, điều hành, nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức khoa học, thị trường, mức hưởng thụ dịch vụ thông tin cho người dân, nhất là phục vụ đồng bào các dân tộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, góp phần đấu tranh với các thế lực thù địch, bảo đảm quốc phòng an ninh; mà phương tiện để truyền tải thông tin về cơ sở hữu hiệu nhất là các đài truyền thanh cơ sở tại các xã, phường, thị trấn. Đây là vấn đề mà hệ thống chính trị cần quan tâm.

Tại Hội nghị tập huấn công tác quản lý chương trình MTQG đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo do Bộ TT&TT tổ chức trong hai ngày từ ngày 11-12/7/2013 tại thị xã Cửa Lò - Nghệ An; Thứ trưởng Bộ TT&TT Trần Đức Lai đã phát biểu "Chúng ta phải tập trung đầu tư mọi nguồn lực, phải làm mọi cách để xóa khoảng cách về thông tin giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc - nhất là biên giới, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo". Với quyết tâm như vậy, thiết nghĩ Bộ TT&TT phải có các giải pháp hữu hiệu để huy động nguồn lực, đề nghị Chính phủ ưu tiên bố trí vốn, nhất là các tỉnh nghèo, miền núi như tỉnh Gia Lai, có ý kiến với UBND các địa phương quan tâm đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở, đảm bảo kinh phí đầu tư mới, nâng cấp các đài truyền thanh cơ sở đã xuống cấp; nâng cấp  đài Phát thanh- Tuyền hình, trạm phát lại truyền hình vùng lõm cấp huyện; thiết lập trạm truyền thanh thôn (bản); hỗ trợ thiết bị nghe - xem tại các điểm sinh hoạt dân cư cộng đồng; hỗ trợ thiết bị thu và nghe - xem cho các đơn vị biên phòng khu vực biên giới; ....đồng thời, tiếp tục có các giải pháp tăng cường năng lực cán bộ thông tin và truyền thông, tăng cường nội dung thông tin và truyền thông về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới để đáp ứng yêu cầu cấp thiết về hưởng thụ thông tin của người dân hiện nay; cũng như yêu cầu về quản lý nhà nước và xã hội của cả hệ thống chính trị trong tình hình mới, nhất là vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo./. 

Trần Thị Huệ - Sở TT&TT Gia Lai

 

Một số biện pháp và giải pháp đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội đối với phụ nữ

Email In PDF.

Hiện nay việc đảm bảo quyền bình đẳng và tiến bộ xã hội của phụ nữ cũng như nâng cao vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang là vấn đề được cả cộng đồng thế giới quan tâm. Vấn đề giải phóng phụ nữ, phụ nữ tham gia hoạt động xã hội, đảm bảo quyền bình đẳng và tiến bộ xã hội của phụ nữ là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội. Đó là thước đo sự tiến bộ của một quốc gia, dân tộc, tính chất dân chủ của một chế độ xã hội, một nhà nước. Do vậy cần phải có những biện pháp và giải pháp để thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới như: Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam; quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới,…được đưa ra trong Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 của Chính phủ quy định về các biện pháp bình đẳng giới, nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

Ngoài ra, để đảm bảo công bằng và sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có được một hệ giải pháp và phải được tiến hành đồng bộ, huy động sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương xuống địa phương cơ sở, đòi hỏi sự cố gắng của các cấp, các ngành vì mục tiêu giải phóng phụ nữ.

Thứ nhất là nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới bằng cách: Quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, tạo bước chuyển biến rõ rệt về hiệu quả công tác phụ nữ ở từng ngành, địa phương, đơn vị; Các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân; lên án, đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Đưa nội dung giáo dục về giới, Luật Bình đẳng giới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong các trường chính trị và các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phấn đấu làm tốt vai trò nòng cốt tham mưu và thực hiện các giải pháp cần thiết để nâng cao nhận thức cho phụ nữ về bình đẳng giới, khắc phục tư tưởng tự ti, an phận, níu kéo nhau, nêu cao tình thần tự chủ, đoàn kết, vượt khó vươn lên để không ngừng tiến bộ, đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội.

Thứ hai là xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ: triển khai thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ nữ, đặc biệt trong các lĩnh vực: lao động-việc làm, giáo dục- đào tạo, dạy nghề, doanh nghiệp, quan hệ dân sự, đất đai, môi trường, bảo hiểm xã hội, hôn nhân-gia đình, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bà mẹ-trẻ em; Quốc hội, cơ quan nhà nước các cấp có cơ chế để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chương trình, dự án phát triển của quốc gia, bộ, ngành, địa phương; Chính phủ và các ngành chức năng nghiên cứu, ban hành một số chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ như: Chính sách hỗ trợ phụ nữ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, công nghệ mới; chính sách khuyến khích đào tạo nghề cho lao động nữ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát huy được thế mạnh của phụ nữ. Có các giải pháp cụ thể để tăng nhanh tỷ lệ phụ nữ được đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng nghề, đại học, sau đại học; chính sách khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ dôi dư khi cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, phụ nữ nông thôn không còn đất canh tác, phụ nữ nghèo, phụ nữ tàn tật; chính sách về nhà ở, chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung; chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa xóa mù chữ, phổ cập các cấp học giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, xóa đói, giảm nghèo, tiếp cận thông tin và hưởng thụ văn hóa; chính sách hỗ trợ phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới. Phát huy vai trò của Quốc hội, Mặt trận, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và lao động nữ trong các thành phần kinh tế.

Thứ ba là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, cò lòng nhân hậu. Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình, xã hội; đấu tranh xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống có hiệu quả tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bạo lực gia đình; ngăn ngừa tình trạng lấy chồng nước ngoài bất hợp pháp, vì vụ lợi. Coi trọng công tác tư vấn, hòa giải về hôn nhân và gia đình. Thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng tình làng nghĩa xóm, quan tâm, giúp đỡ các gia đình khó khăn, hoạn nạn, người cao tuổi cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Xây dựng hệ thống chính sách cơ bản nhằm phát triển gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tiêu chí "no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc". Cần chú trọng các lĩnh vực: dân số, kế hoạch hóa gia đình; chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và HIV/AIDS; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phát triển các dịch vụ hỗ trợ gia đình; cải thiện môi trường sống. Có chính sách thai sản đối với phụ nữ nghèo không có chế độ bảo hiểm xã hội; chính sách phát triển hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo; nâng cao kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con cho các bà mẹ. Nghiên cứu và thực hiện việc giáo dục, xây dựng gia đình "no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc" và giáo dục phẩm chất, đạo đức người phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng các ban, ngành, đoàn thể vận động, hướng dẫn phụ nữ phấn đấu rèn luyện theo các tiêu chí: có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu.

Thứ tư là xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng cách: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ; xây dựng các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ; bồi dưỡng phát triển đảng viên nữ cân đối giữa các khu vực. Chú trọng việc bố trí, phân công công tác để đảng viên nữ có điều kiện phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành; Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp, cán bộ, đảng viên nữ cần chủ động, tích cực tham mưu, giới thiệu, tạo nguồn cán bộ nữ và giới thiệu quần chúng là phụ nữ ưu tú cho Đảng. Khắc phục tư tưởng an phận, tình trạng níu kéo, không ủng hộ nhau ngay trong nội bộ cán bộ nữ.

Và cuối cùng là xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị, phương pháp vận động quần chúng cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp. Thành lập và phát triển Học viện Phụ nữ Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học về công tác phụ nữ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội, cán bộ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Với những biện pháp và giải pháp trên sẽ tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể, các phòng ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc ngành, các địa phương và nhân dân về bình đẳng giới, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nam và nữ trong các lĩnh vực hoạt động của cơ quan, đơn vị và trong đời sống xã hội, gia đình; tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào công việc của xã hội và cơ quan, đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.

Như Hiền

 

Phổ biến Dự thảo văn kiện dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên

Email In PDF.

Thực hiện nội dungCông văn số 761/SKHĐT-KTĐN ngày 23/8/2013 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai “V/v phổ biến dự thảo văn kiện dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên”, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai đã tải về các văn kiện như sau:

  1. Dự thảo Báo cáo nghiên cứu khả thi cấp trung ương;
  2. Dự thảo Báo cáo đánh giá tác động xã hội;
  3. Dự thảo Báo cáo khung chính sách xã hội – môi trường;
  4. Dự thảo khung chính sách tái định cư;

Để giúp người dân và các cơ quan, tổ chức biết đến các dự thảo trên để đóng góp ý kiến, Sở Thông tin và Truyền thông đã đăng tải các dự thảo này trên trang thông tin điện tử của Sở tại địa chỉ: http://tttt.gialai.gov.vn/.

Mọi người dân và các cơ quan, tổ chức có thể lấy các dự thảo trên về để nghiên cứu và góp ý bằng cách truy cập vào 04 đường dẫn (1…,2…,3…,4…) bên trên. Riêng các huyện trong vùng dự án phải thông báo cho các xã dự án biết và duy trì khả năng tiếp cận được bản in các tài liệu nói trên đối với các bên liên quan tại Ban chuẩn bị dự án Giảm nghèo các huyện cho đến khi có bản dự thảo mới được thay thế hoặc bản dự thảo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt./.

Phòng Kế hoạch – Tài chính

                                                               (Nguyễn Thị Như Hiền)

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 27 Tháng 8 2013 03:17 )
 

Liên kết web



Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đăng nhập




caicachthutuchanhchinh

Danh sach tro choi G1

link video ma doc


Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Copyright© 2017 Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Địa chỉ: 17 Trần Hưng Đạo, Pleiku, Gia Lai. Điện thoại: (059) 3717564. Fax: (059) 3717564. Email: sogialai@mic.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Ngọc Hùng - Giám đốc Sở.
Giấy phép số: 186/GP-TTĐT cấp ngày 19/10/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông.