16:25:26 , 20/9/2017

Tin tổng hợp

Kết quả thi đua thực hiện nhiệm vụ năm 2016 của Sở Thông tin Và Truyền thông

Email In PDF.

Năm 2016, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai đã nỗ lực, phấn đấu, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ do tỉnh và Bộ Thông tin và Truyền thông giao. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực Thông tin và Truyền thông trên địa bàn tỉnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh và thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ của ngành. Với kết quả đó, qua đánh giá tổng kết và xét thi đua, khen thưởng năm 2016, Chi bộ Sở đề nghị đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch vững mạnh; Công đoàn đề nghị đạt Công đoàn cơ sở vững mạnh; Chi đoàn đạt Tổ chức Đoàn vững mạnh xuất sắc. Cơ quan Sở: Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông tặng Cờ thi đua "Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2016".

- Có 07 đơn vị (đạt 100%) đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến, trong đó có 02 tập thể (29%) được đề nghị Chủ tịch UBND xét công nhận danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc, 01 tập thể phòng được đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen; 01 tập thể phòng được đề nghị Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tặng Bằng khen; 05 Tập thể (71%) được Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tặng Giấy khen.

- Có 39/43 CCVC, NLĐ (đạt 91%) trong Sở đạt danh hiệu "Lao động tiên tiến"; trong đó có 06 cá nhân đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở" (15% trong tổng số đạt “Lao động tiên tiến”); 02 cá nhân được đề nghị Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tặng Bằng khen Đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2016; 02 cá nhân được đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen Đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2016; 11 cá nhân được Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tặng Giấy khen.

Phương Thúy

 

Ban hành danh mục các dự án quy hoạch năm 2016 và danh mục các dự án quy hoạch giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Email In PDF.

Nội dung Quyết định 642/QĐ-UBND ngày 23/9/2016

 

Hợp tác và đấu tranh để giải quyết bất đồng, ngăn ngừa xung đột

Email In PDF.

Trong phiên toàn thể thứ 4 Đối thoại Shangri-La lần thứ 15 tại Singapore  với chủ đề "Những thách thức trong giải quyết xung đột", Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã có bài phát biểu với tựa đề: “Hợp tác và đấu tranh để giải quyết bất đồng, ngăn ngừa xung đột”.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 15.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 15.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhận định châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có vai trò ngày càng quan trọng, trở thành động lực phát triển của kinh tế thế giới. Đông Nam Á, với sự ra đời của Cộng đồng ASEAN, đã trở thành một nhân tố tích cực, mở rộng hội nhập, gia tăng liên kết, ràng buộc lợi ích và là trung tâm của các cấu trúc an ninh khu vực đã và đang định hình; hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển hiện vẫn là xu hướng chủ đạo.

Tuy nhiên, tình hình an ninh khu vực vẫn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp, không thể xem thường như khủng bố, nguy cơ hạt nhân, tranh chấp biên giới, lãnh thổ, an ninh biển và các thách thức an ninh phi truyền thống... có xu hướng gia tăng. Những tranh chấp bất đồng trong khu vực đang gây nhiều quan ngại, dù chưa đến mức bùng phát xung đột, nhưng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu tiềm tàng cần được dự báo, ngăn chặn và hóa giải kịp thời.

Tình hình đó là do những khác biệt về lợi ích, những tham vọng, cạnh tranh chiến lược diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, bất chấp luật pháp quốc tế.

Đó là sự không nhất quán trong lời nói và việc làm; sự khác biệt và bất bình đẳng trong cách thức giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, đó còn là cách hành xử áp đặt; sự theo đuổi lợi ích vị kỷ, hẹp hòi, không tính đến lợi ích của nước khác, lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Những biểu hiện tiêu cực và khó lường này, những bất đồng, tranh chấp như đang diễn ra - nếu không được giải quyết một cách hiệu quả, đầy trách nhiệm, vì hòa bình và ổn định -  sẽ dẫn đến nguy cơ xung đột.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nếu xung đột xảy ra - dù ở quy mô nào, cường độ cao hay thấp; cục bộ hay toàn bộ; trong một quốc gia hay giữa các quốc gia; dân tộc hay tôn giáo; chính trị hay kinh tế, môi trường hay văn hóa… đỉnh điểm là xung đột quân sự, thì hậu quả sẽ rất to lớn và khó lường, không chỉ đối với các bên trực tiếp liên quan mà cả đối với khu vực và toàn thế giới.

Tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ đều không muốn xung đột xảy ra, nhưng vì sao các thách thức đối với an ninh khu vực vẫn đang tồn tại và có chiều hướng phát triển? Vì sao chủ đề “ngăn ngừa xung đột”, “hóa giải xung đột” vẫn đang làm cho tất cả các quốc gia quan tâm, trăn trở?  Đó là vì vẫn còn sự khác biệt trong nhận thức chung về lợi ích, sự thiếu lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, sự không tuân thủ luật pháp quốc tế… Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác, các công cụ ngoại giao và pháp lý chưa đủ mạnh và chưa thực sự được tôn trọng, phát huy đầy đủ hiệu quả để giải quyết tranh chấp, bất đồng, xung đột.

Trong bối cảnh như vậy, cần có cách nhìn thực tế và biện chứng hơn trong hợp tác phát triển và giải quyết tranh chấp, bất đồng, hóa giải xung đột. Trong một thế giới hiện đại, không chỉ có hợp tác phát triển mà còn tồn tại những tranh chấp, bất đồng; không chỉ có thời cơ thuận lợi mà còn có cả những thách thức, thậm chí nguy cơ. Vì vậy phải vừa hợp tác, vừa đấu tranh để giải quyết bất đồng và cùng phát triển, vì lợi ích chiến lược chung của mỗi quốc gia và của toàn khu vực.

Đây là quy luật tất yếu của thế giới hiện đại, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Trong một thế giới đa cực, đa dạng, muốn có hòa bình và thịnh vượng không thể không có đấu tranh. Nhưng, muốn đạt được mục đích trong đấu tranh thì không thể không hợp tác.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh, tất cả các quốc gia cần phải hợp tác và đấu tranh để giải quyết bất đồng, ngăn ngừa xung đột, tăng cường hợp tác cùng phát triển, xây dựng lòng tin, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, đồng thời, thẳng thắn đấu tranh để tìm ra tiếng nói chung, lợi ích chung trong giải quyết tranh chấp, bất đồng. Nhưng dù hợp tác hay đấu tranh, trước hết đều phải trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, coi đó là chuẩn mực để các bên liên quan giải quyết các tranh chấp, bất đồng, giảm thiểu nguy cơ xung đột; kiên trì, bình tĩnh xử lý bằng các biện pháp hòa bình, tuyệt đối không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.

Mọi quốc gia đều dựa trên lợi ích quốc gia, dân tộc mình để hợp tác, phát triển cũng như giải quyết tranh chấp, bất đồng, coi đó là tiêu chí cơ bản, là ưu tiên hàng đầu trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc mình cũng như trong quan hệ quốc tế.

Nhưng lợi ích quốc gia dân tộc cần được nhìn nhận một cách khách quan, phù hợp, có cơ sở vững chắc và được đặt trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích của các quốc gia khác và của cộng đồng quốc tế. Tránh đơn phương áp đặt, không tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như hòa bình, ổn định khu vực và trên toàn thế giới.

Tăng cường hợp tác trong các tổ chức đa phương như các cơ chế hợp tác Liên Hợp Quốc, những cấu trúc an ninh khu vực như ARF, EAS, ADMM, ADMM+…  là giải pháp hết sức quan trọng để giải quyết tranh chấp, bất đồng, đẩy lùi nguy cơ xung đột. Trong đó cần coi trọng sự đoàn kết, vai trò trung tâm, dẫn dắt của ASEAN và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, cũng như các quốc gia liên quan – đặc biệt là các nước lớn vì hòa bình và công lý. Đối thoại Shangri-La 15 là minh chứng tiêu biểu cho tinh thần “hợp tác và đấu tranh để giải quyết bất đồng, ngăn ngừa xung đột”, duy trì môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Thượng tướng Nguyễn chí Vịnh khẳng định trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ và coi đây là nguyên tắc cao nhất, vừa hợp tác vừa đấu tranh để phát triển cũng như giải quyết tranh chấp, bất đồng. Việt Nam dựa vào sức mình là chính để bảo vệ các lợi ích quốc gia, dân tộc, không đi với nước này để chống nước khác. Đồng thời, công khai, minh bạch, tôn trọng tiếng nói và lợi ích của cộng đồng trong những vấn đề an ninh chung của khu vực và quốc tế.

Về vấn đề Biển Đông, hiện nay Việt Nam và một số nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền còn tồn tại những tranh chấp và khác biệt với Trung Quốc. Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó mà kéo theo nó là những hành động đơn phương áp đặt, làm thay đổi hiện trạng và đang có nguy cơ quân sự hóa nhằm tạo ra sức mạnh răn đe; làm ảnh hưởng xấu đến an ninh an toàn trên không, trên biển và dưới đáy biển, hủy hoại môi trường, cản trở các hoạt động lao động hòa bình trên biển… kéo theo sự can dự của các quốc gia trong và ngoài khu vực. Nếu không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến chạy đua vũ trang, đối đầu chiến lược với những hậu quả hết sức nghiêm trọng và khó lường.

Việt Nam chủ trương kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ an ninh, an toàn hàng hải, hàng không bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó, có Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Tuyên bố của các bên về ứng xử trên Biển Đông của ASEAN và Trung Quốc (DOC) và thực tâm bàn bạc sớm ký kết Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên trên Biển Đông (COC). Trong khi đó vẫn phải tăng cường hợp tác với Trung Quốc và các nước có liên quan nhằm xây dựng và củng cố lòng tin, tìm ra những điểm chung trong lợi ích chiến lược, đồng thời thẳng thắn đấu tranh trên tinh thần xây dựng. Chỉ có vậy, mới cùng tìm ra những giải pháp mà các bên liên quan có thể chấp nhận, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế và cũng sẽ được cộng đồng quốc tế đón nhận như một đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định tại khu vực và thế giới.

Kết thúc bài phát biểu, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Muốn có hòa bình, thì phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào nội trị của nhau, không xâm lược nhau, tôn trọng lãnh thổ toàn vẹn, chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc của nhau...  Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”.

Trong phần hỏi-đáp sau khi các diễn giả trình bày, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã trả lời hai câu hỏi của các đại biểu.

Trả lời câu hỏi về việc đối thoại song phương có tác dụng thế nào trong việc giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cho rằng quan điểm của Việt Nam là đối với những tranh chấp liên quan giữa hai nước thì cần tiến hành đối thoại song phương, nhưng với những tranh chấp liên quan đến nhiều nước thì không thể đối thoại song phương mà phải tiến hành đối thoại đa phương với tất cả những nước có liên quan.

Trả lời câu hỏi liệu việc Tổng thống Mỹ B.Obama mới công bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam có đồng nghĩa với việc Mỹ trở thành đối tác quốc phòng chính của việt Nam hay không và Việt Nam cân nhắc mua những loại vũ khí nào của Mỹ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nói quyết định này của Mỹ dù hơi muộn nhưng đúng đắn, thể hiện sự tôn trọng đối với Việt Nam và tăng cường lòng tin giữa hai nước đang có quan hệ đối tác toàn diện; hiện tại Việt Nam chưa đưa ra quyết định nào về việc mua vũ khí Mỹ.

Theo QĐND

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 07 Tháng 6 2016 01:36 )
 

Gia Lai: Rừng Đak Đoa bị xâm hại nặng?

Email In PDF.

(GLO)- Những cánh rừng thuộc đất rừng phòng hộ Đak Đoa trên địa bàn các xã Hải Yang, Đak Sơmei, Hà Đông (Đak Đoa) đang bị người dân chặt, đốt trơ trọi nhan nhản khắp nơi.

Trong số 18.000 ha đất rừng thuộc quyền kiểm soát từ Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa đang quản lý, thì không biết đã có bao nhiêu diện tích được cho là bị xâm lấn, mất rừng. Theo ghi nhận của phóng viên, diện tích rừng đang bị triệt hạ, đốt cháy là không hề nhỏ.

 

Rừng bị chặt phá nhưng cơ quan chức năng cho là rẫy của dân. Ảnh: N.G
Rừng bị chặt phá nhưng cơ quan chức năng cho là rẫy của dân. Ảnh: N.G

Thiếu rẫy... phá rừng

Như Báo Gia Lai 2-2012 phản ánh “Rừng phòng hộ Đak Đoa bị tàn phá”. Ngay sau sự việc này được phản ánh, UBND tỉnh đã chỉ đạo địa phương và ngành chức năng kiên quyết xử lý. Theo đó, có nhiều đối tượng bị bắt giữ khi đang phá rừng bằng cưa máy và bị xử phạt tù. Việc này đã tác động phần nào đến nhận thức của người dân trên địa bàn các xã Đak Sơmei, Hà Đông.

Tuy nhiên, mọi chuyện đâu lại vào đấy. Với lý do, đất của cha mẹ mình để lại? Hàng trăm hộ dân sinh sống tại 2 xã này mạnh ai nấy vào rừng tìm những vị trí đắc địa để chặt hạ cây rừng. Chờ khô rồi đốt cháy trơ trọi, biến những cánh rừng xanh tốt nơi đây thành rẫy mì, rẫy lúa. Các khoảnh rừng bị người dân xâu xé thành từng mảng lớn nhỏ. Màu xanh của diện tích cây rừng tại khu vực này còn lại không đáng là bao và chủ yếu nằm ở những con dốc cao, vực sâu nên chưa bị người dân chạm đến.

Trong các ngày 9 và 10-5, trên tuyến đường từ ngã 3 Đak Sơmei vào trung tâm xã Hà Đông dài chừng 8 cây số, thì phần lớn diện tích rừng nằm sâu 2 bên đường đã bị người dân chặt phá gần hết. Thậm chí, những cây gỗ đường kính to bằng bắp chân người lớn, bị họ bỏ lại rẫy. Còn nhiều đám cây rừng bị đốt cháy thành cụm chết khô trước khi biến những đám rừng này thành than, tro bổ sung chất cho vụ lúa, vụ mì khi mùa mưa đến gần.

 

Đất rừng tại xã Hà Đông bị người dân lấn chiếm làm nương rẫy. Ảnh: N.G
Đất rừng tại xã Hà Đông bị người dân lấn chiếm làm nương rẫy. Ảnh: N.G

Chuyện chặt phá rừng làm nương rẫy tại khu vực rừng thuộc xã Đak Sơmei, Hà Đông như trở thành chuyện thường ngày ở huyện. Nhìn những tán rừng xanh tốt ở cận đường mà xót cho hàng trăm ha rừng đã và đang bị người dân tàn phá, đốt cháy phục vụ cho nhu cầu sản xuất, canh tác nương rẫy.

Qua tìm hiểu, toàn bộ diện tích đất rừng nằm trên địa phận xã Hà Đông được giao cho 4 đơn vị quản lý gồm UBND xã, kiểm lâm huyện, kiểm lâm rừng Quốc gia Kon Ka Kinh và Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa. Theo đó, các đơn vị được cho là thường xuyên túc trực để xử lý, nhắc nhở, bắt giữ những người xâm hại đến rừng.

Việc quản lý, phối hợp là thế nào thì chưa rõ, tuy nhiên, những cánh rừng nơi đây đã và đang từng ngày bị triệt hạ không hề thương tiếc.

Rừng bị phá là rẫy cũ?

Để tìm hiểu rõ hơn về công tác phối hợp, quản lý, cũng như trách nhiệm từ các cơ quan được phân công thì phóng viên chỉ nhận được lời hứa sẽ gặp sau qua trao đổi điện thoại, hay những lời nói “lòng vòng” phủ trách nhiệm.

 

   
   
Cây rừng bị người dân chặt hạ thuộc xã Hà Đông. Ảnh: N.G

Khi đến Hạt Kiểm lâm huyện Đak Đoa vào 10-5, thì nhân viên cho là lãnh đạo không có ở cơ quan. Qua liên lạc điện thoại, phóng viên nhận được câu trả lời từ ông Nguyễn Hữu Long-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đak Đoa: Tôi đi công việc ở Gia Lai, tối chiều mới xuống được, hiện không có ai, sẽ gặp để nói sau.

Từ phía đơn vị trực tiếp quản lý rừng tại khu vực đang bị người dân chặt phá là Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa thì được chính lãnh đạo đơn vị này đinh ninh cho rằng: Toàn bộ diện tích rừng mà phóng viên ghi nhận là rẫy cũ của dân, sau nhiều năm bỏ để làm rẫy nơi khác thì đất tự phục hồi, cây rừng tự mọc lại và bị người dân đốt nương làm rẫy chứ không phải rừng bị phá mới?

Khi đưa ra những hình ảnh về những cây rừng khá lớn bị chặt phá la liệt nằm khắp nơi trong khu vực rừng tại xã Hà Đông, có khu vực chúng tôi còn nghe được tiếng động cơ của máy cưa xăng vọng ra từ khu vực rừng sâu.

Giải thích với phóng viên về sự việc ghi nhận, ông Hoàng Thi Thơ-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa khẳng định: Tôi sống đã nhiều năm tại đây, rừng mà dân đốt, chặt là rẫy của dân. Chúng tôi đã nhắc nhở, xử lý nên người dân đã nhận thức tốt hơn, còn việc lấn chiếm đất rừng là vẫn diễn ra nhưng diện tích không đáng kể. Khối lượng rừng tại khu vực bị phá cũng không đủ để xử lý.

 

Rừng cây sao bị chặt hạ thuộc xã Hải Yang, huyện Đak Đoa. Ảnh: N.G
Rừng cây sao bị chặt hạ thuộc xã Hải Yang, huyện Đak Đoa. Ảnh: N.G

Toàn bộ diện tích tại khu vực xã Hà Đông đang được người dân sử dụng và cả những trụ sở như trường học, UBND xã đều thuộc đất lâm nghiệp. Đây là bất cập tồn tại từ lâu nay, ngoài ra, dân cư tại đây liên tục phát triển, thiếu đất sản xuất và không có nơi để sản xuất thì rừng bị xâm chiếm và không thể quản lý hết-ông Thơ cho biết thêm.

Các khoảnh rừng rừng bị dân xâm chiếm được ông Thơ cho biết thuộc các tiểu khu 406, 407, 410. Khi phóng viên đưa thêm các hình ảnh chứng minh đã có rất nhiều diện tích rừng bị phá mới thì vị Trưởng ban mới tiết lộ thêm đó là tiểu khu 402, 404. Chuyện ậm ờ trong công tác quản lý này phải chăng đang có vấn đề? và diện tích rừng bị phá liệu có dừng lại ở con số này?. Cụ thể diện tích rừng bị phá đang diễn biến tường tận thế nào chỉ có người trong cuộc mới biết rõ?

Liên quan đến công tác quản lý rừng trên địa bàn xã, ông Chiên-Chủ tịch UBND xã Hà Đông cho biết: Xã có diện tích rừng lớn, riêng xã được phân công phụ trách 2.000 ha và được giao khoán toàn bộ cho các hộ dân. Vừa qua, việc người dân lấn chiếm rừng làm rẫy không có. Các khu vực dân đốt rẫy, chặt hạ cây là rẫy cũ, có hộ lấn chiếm nhưng không nhiều do không làm đường ranh cản lửa?.  
 
Liên quan khu vực rừng đang bị người dân xâm lấn thuộc quyền Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa. Theo ghi nhận, thời gian qua, tại tại tiểu khu 456 thuộc địa phận thôn 1, xã Hải Yang, Đak Đoa, hoạt động xâm lấn đất rừng tại đây diễn ra công khai mà không hề lo sợ chủ rừng bắt, xử lý. Theo đó, những lán trại tạm được dựng lên để làm nơi tá túc lúc nắng mưa phục vụ cho việc chặt, dọn, cuốc xới và canh tác dù có hay không sự có mặt của người lạ.

Cũng thuộc tiểu khu 456, tại thôn 4 việc chặt phá nghiêm trọng hơn. Đất đai bị xâm lấn cuốc xới nham nhở, người dân thì vô tư đào mương phân lô tranh phần như đất rừng này thuộc riêng mình. Hàng trăm cây sao đen được trồng từ năm 1992 (đường kính từ 20 cm - 30 cm) đã bị người dân cưa sát gốc nằm ngã rạp và sẽ biến thành rẫy bất cứ lúc nào. Chưa kể, những cây thông cao chót vót nằm ngay bìa rừng có độ tuổi trên 30 năm cũng bị người dân rốc vỏ, cho cây tự chết dần để nới rộng diện tích đất đã sở hữu trước đó như chuyện đã và đang diễn ra tại xã Đak Jrăng, Đak Đoa đã được báo chí phản ánh.

Theo Báo Gia Lai điện tử

 

Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai - 10 năm xây dựng và phát triển (2005-2015)

Email In PDF.

10namgiamdocThực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc mở cửa thị trường bưu chính, viễn thông, xóa bỏ độc quyền để tăng tốc phát triển; cùng với sự phát triển nhanh của lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) đã đặt ra yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhà nước cả về cơ chế và tổ chức, tách công tác quản lý nhà nước ra khỏi công tác quản lý sản xuất kinh doanh; ngày 25/02/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2004/NĐ-CP về việc thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông (BCVT) thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Ngày 10/01/2005, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 01/2005/QĐ-UB thành lập Sở Bưu chính Viễn thông với 03 phòng chuyên môn là Văn phòng - Thanh tra; phòng BCVT, phòng CNTT với biên chế được giao là 12 người. Tuy vậy, đến tháng 7/2005, UBND tỉnh mới có quyết định bổ nhiệm Giám đốc Sở BCVT. Tháng 8/2005, bộ máy tổ chức của Sở được hình thành với 04 công chức chính thức (kể cả Giám đốc Sở) từ các cơ quan khác chuyển về và một số sinh viên vừa tốt nghiệp được hợp đồng công tác lần đầu.

Ngày 25/10/2005, Sở chính thức ra mắt đi vào hoạt động. Cũng trong thời gian này, Chi bộ của Sở đã được thành lập, trở thành hạt nhân lãnh đạo mọi mặt hoạt động của Sở, Công đoàn và Chi Đoàn thanh niên lần lượt được hình thành. Với đặc thù của một Sở mới, đội ngũ cán bộ hầu hết là trẻ, còn ít kinh nghiệm thực tế nên Lãnh đạo Sở luôn quan tâm và có những giải pháp, kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho công chức, viên chức (CCVC). Bộ máy tổ chức của Sở liên tục được củng cố: năm 2006, Sở được bố trí 17 biên chế, 04 phòng chuyên môn; năm 2007 là 19 biên chế. Đến tháng 4 năm 2008, tỉnh quyết định thành lập Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) trên cơ sở Sở BCVT theo chủ trương của Trung ương; bổ sung chức năng tham mưu quản lý nhà nước lĩnh vực báo chí và xuất bản (BCXB).

Về cơ sở vật chất, khi hình thành bộ máy, Sở được tỉnh bố trí các nơi làm việc là trụ sở cũ đã xuống cấp; phương tiện làm việc hầu như chưa có gì ngoài 01 chiếc xe ô tô. Sau 10 năm hình thành, đến nay Sở có 06 phòng chuyên môn (Văn phòng, Thanh tra, phòng Kế hoạch – Tài chính, phòng BCVT, phòng CNTT, phòng BCXB) và 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở là Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) với 46 biên chế CCVC. Toàn thể CCVC của Sở đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng quy định và yêu cầu (trong đó có 03 thạc sĩ, 39 đại học, 01 cao đẳng, 03 trình độ trung cấp); đồng thời hàng năm đều được bồi dưỡng, đào tạo lại về chuyên môn, chính trị, ngoại ngữ...để theo kịp sự tiến bộ của công nghệ và yêu cầu quản lý. Chi bộ Sở có 24 đảng viên. Các điều kiện về phương tiện làm việc đã đáp ứng được nhu cầu làm việc của CCVC, trong đó mỗi người đều được trang bị máy vi tính với phương thức làm việc theo mô hình "văn phòng điện tử", có đủ phương tiện làm việc theo quy định.

Là một Sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, Sở đã chủ động và tích cực tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chỉ thị, quyết định về quản lý và phát triển trên lĩnh vực TT&TT, tham gia hầu hết các Ban chỉ đạo cấp tỉnh. Từ năm 2005 đến nay, Sở đã tham mưu HĐND, UBND tỉnh ban hành 19 văn bản quy phạm pháp luật và nhiều văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đối với lĩnh vực TT&TT. Tham mưu UBND tỉnh củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT của tỉnh; hướng dẫn UBND các huyện, thị xã, thành phố kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo ứng dụng CNTT, nhân sự và nghiệp vụ quản lý ngành tại địa phương, từng bước củng cố tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về TT&TT từ tỉnh đến huyện. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thường xuyên được triển khai rộng khắp và có chất lượng, với trên 20 hội nghị, hội thảo chuyên đề, phổ biến pháp luật về BCVT, CNTT, BCXB và các văn bản hướng dẫn có liên quan cho các sở, ngành ở tỉnh, các các huyện, thị xã, thành phố và doanh nghiệp trong tỉnh. Ngoài ra hoạt động TT&TT trên địa bàn tỉnh còn thường xuyên được phản ánh qua Bản tin TT&TT, trang thông tin điện tử của Sở, chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền trên Đài Truyền thanh – Truyền hình tỉnh.

Về chuyên môn, Sở đã tham mưu UBND tỉnh thực hiện nhiều dự án quan trọng như: Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh, hệ thống thư điện tử công vụ; hệ thống hội nghị qua truyền hình từ tỉnh đến cấp huyện; hệ thống quản lý văn bản và điều hành -"Văn phòng điện tử" (đã có kết nối thử nghiệm với Văn phòng Chính phủ) ở hầu hết UBND cấp huyện và các cơ quan chuyện môn thuộc UBND tỉnh; hệ thống "1 cửa điện tử hiện đại" ở cấp huyện và một số đơn vị cấp sở. Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh (đặt tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông) được UBND tỉnh cho đầu tư hiện đại với hệ thống bảo mật cao. Triển khai tốt chương trình mục tiêu quốc gia "Đưa thông tin về cơ sở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo", trong đó đã đầu tư 29 đài truyền thanh cấp xã, nâng tổng số xã có đài truyền thanh lên 136/222 xã vào cuối năm 2015, tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cán bộ TT&TT cơ sở, góp phần tạo điều kiện cho nhân dân ở cơ sở tiếp cận được thông tin qua hệ thống phát thanh. Hàng năm, tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về CNTT cho CCVC của tỉnh. Đặc biệt, việc Sở được UBND tỉnh giao phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức giao ban báo chí hàng tháng đã kịp thời cung cấp thông tin và định hướng cho hoạt động báo chí là một việc làm có hiệu quả trong thời gian qua.

Việc thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, công tác phối hợp với các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cũng được Sở chú trọng thực hiện. Qua việc thực hiện các ký kết hợp tác, Sở đã chủ động phối hợp với các đơn vị ở TP.HCM xây dựng Dự án "Hỗ trợ khám chữa bệnh từ xa" với kinh phí do TP.HCM tài trợ; Sở TT&TT T.P. HCM và Đà Nẵng cũng hỗ trợ cho Sở TT&TT Gia Lai trong việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về CNTT&TT, về kinh nghiệm quản lý. Đối với các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, Sở đã có mối quan hệ phối hợp vừa chặt chẽ, nghiêm túc, vừa thân tình, gắn kết; đã giúp nhiều đơn vị, địa phương xây dựng các dự án về CNTT và được tỉnh chấp thuận cho triển khai như dự án "Hỗ trợ nông dân ứng dụng Internet phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn", hỗ trợ các đơn vị, địa phương xây dựng trang thông tin điện tử, xây dựng mô hình "công sở điện tử", "1 cửa hiện đại"; phối hợp với Công an tỉnh, Chi cục quản lý thị trường trong việc thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh các hoạt động dịch vụ lĩnh vực TT&TT; phối hợp với Công an, quân sự trong các nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là vấn đề an ninh thông tin, chống đe dọa, khủng bố, quấy rối, lừa đảo, chống phá chính quyền qua mạng thông tin. Đối với các doanh nghiệp trong ngành, Sở đã thể hiện tốt vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp với cấp ủy và chính quyền địa phương; đồng thời giúp các doanh nghiệp tháo gỡ nhiều vướng mắc khó khăn trong việc phát triển hạ tầng viễn thông; việc quảng bá, phát triển các dịch vụ; hỗ trợ thực hiện các chương trình viễn thông và bưu chính công ích; giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp và khách hàng với doanh nghiệp thông qua hoạt động thanh tra chuyên ngành TT&TT; kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đã gây ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước. Các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp cũng đã hỗ trợ Sở rất nhiều trong việc tăng cường công tác tham mưu, quản lý.

Về nghiên cứu khoa học, giai đoạn 2005 - 2015, Sở TT&TT đã hoàn thành và được UBND tỉnh ghi nhận kết quả thực hiện 02 Đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh: "Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt" (tudienjrai.gov.vn); "Từ điển điện tử phương ngữ Bahnar-Việt" (tudienbahnar.gov.vn). Đây là các đề tài khoa học do Sở chủ trì thực hiện có ý nghĩa chính trị và xã hội, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh, tạo điều kiện cho CCVC, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu, học về ngôn ngữ, văn hóa Jrai, Bahnar và quảng bá hình ảnh trên toàn thế giới.

10namgiamdoc2

          Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, công tác xã hội, từ thiện luôn được Sở quan tâm. Trong những năm đầu thành lập và hoạt động, mặc dù còn rất nhiều khó khăn về biên chế và kinh phí, nhưng được tỉnh phân công, Sở đã xây dựng chương trình thực hiện kế hoạch phụ trách, giúp đỡ xã Ia Trôk - huyện Ia Pa nhằm giúp xã ổn định trật tự xã hội, phát triển kinh tế, củng cố hệ thống chính trị; hỗ trợ trang bị cơ sở vật chất tại bộ phận "Một cửa", cấp máy tính, máy in và mở lớp đào tạo tin học văn phòng cho CBCCcông tác tại xã; hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà cho 02 hộ nghèo đặc biệt khó khăn của xã.

Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, song thị trường viễn thông, internet, mạng lưới bưu chính phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân, góp phần đảm bảo an toàn, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh. Vào năm 2005, trên địa bàn tỉnh, lĩnh vực BCVT chỉ có 02 doanh nghiệp hoạt động; mật độ điện thoại dưới 07 TB/100 dân, điện thoại di động còn quý hiếm, internet còn xa lạ với nhiều người; CNTT chưa được ứng dụng nhiều trong các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội; hoạt động báo chí cũng còn chưa sôi động lắm với chỉ 09 phóng viên thường trú của các cơ quan báo ngoài tỉnh cùng Báo Gia Lai và Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh. Vậy mà qua 10 năm đã có sự thay đổi hẳn : Mạng lưới bưu chính đã phủ kín địa bàn tỉnh với bán kính phục vụ bình quân là 4,61km/điểm, có 213/222 xã, phường, thị trấn có báo đến trong ngày (đạt tỷ lệ 95,95%), việc cung cấp phát báo cho độc giả và đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số được thực hiện kịp thời và đầy đủ. Hiện đã có 100% các xã trong tỉnh đã có sóng điện thoại 2G; 221/222 xã có sóng 3G, chiếm 99,54%; Mạng cáp truyền dẫn được phát triển rộng khắp với 177/222 xã(79,7%)  đơn vị hành chính cấp xã được kết nối cáp đồng và 221/222 (99,54%) đơn vị hành chính cấp xã được kết nối cáp quang tới trung tâm; 17/17 đơn vị hành chính cấp huyện được kết nối cáp quang.Tổng số trạm thu phát sóng (BTS) tính đến năm 2015 là 1.314 trạm, tăng 1.234 trạm so với năm 2005 (80 trạm). Tỷ lệ thuê bao (TB) điện thoại đạt 100,23 TB/100 dân, tăng gấp 14,3 lần so với năm 2005. Tổng số thuê bao Internet là 62.205TB, tăng gấp 23,5 lần so với năm 2005. Doanh thu bưu chính, viễn thông giai đoạn 2005–2010 đã đạt trên 800 tỷ đồng/năm, giai đoạn 2011 – 2015 đạt 1.289,52 tỷ đồng/năm, bình quânmỗi năm tăng 7,72%;đóng góp đáng kể vào tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh, bình quân hơn50 tỷ đồng/năm.

Số lượng Văn phòng thường trú và Phóng viên thường trú các báo trung ương và ngành trên địa bàn tỉnh đã tăng đến 21 đơn vị. Các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng cả nội dung và hình thức các ấn phẩm, chương trình, chuyên trang, chuyên mục đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, bạn nghe, xem đài; các cơ quan báo chí chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí nhân lực thực hiện tốt công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, phản ánh đầy đủ các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ, các sự kiện lớn diễn ra trong tỉnh. Vùng phủ sóng của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh và công tác phát hành của Báo Gia Lai ngày càng mở rộng, từng bước nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khán thính giả, bạn đọc. Việc phát sóng chương trình truyền hình của Đài tỉnh lên vệ tinh và việc hình thành Báo Gia Lai điện tử đã góp phần chuyển tải thông tin của tỉnh, quảng bá hình ảnh của tỉnh đến với người xem trong và ngoài tỉnh và thế giới, để họ hiểu biết về Gia Lai nhiều hơn, từ đó giúp các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư vào tỉnh cũng như thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan danh lam, thắng cảnh ở địa phương.

Công tác thông tin đối ngoạitrên địa bàn tỉnh đã được quan tâm.Các sở, ban, ngành và các địa phương trong tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại ban hành theo Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Lĩnh vực in, xuất bản, phát hành phát triển đúng hướng, các hoạt động đã đi vào nề nếp và ổn định theo đúng Luật Xuất bản và các quy định liên quan về tổ chức và hoạt động in. Các cơ sở in trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định và ngày càng phát triển; hầu hết các doanh nghiệp in trong tỉnh đã đầu tư công nghệ in offset hiện đại và không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu in  ngày càng tăng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Từ năm 2011 đến nay, Sở TT&TT đã triển khai tổ chức thành công Liên hoan Phát thanh- Truyền hình hàng năm, qua đó đã kích thích sự sáng tạo các tác phẩm phát thanh - truyền hình có chất lượng, hấp dẫn để phục vụ công chúng.

Việc sử dụng máy vi tính, ứng dụng internet đã dần dần trở nên phổ cập đối với toàn xã hội,tính đến cuối năm 2015, có trung bình 06 máy/100 dân, tăng khá nhiều so với năm 2005 (dưới 01 máy tính/100 dân). Riêng đối với khối cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể, tỷ lệ cán bộ, công chức/máy tính đạt hơn 87%.

Những kết quả đạt được nêu trên qua 10 năm xây dựng và phát triển của Sở TT&TT Gia Lai đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị của tỉnh nói chung. Tuy cũng còn không ít khó khăn nhưng Sở TT&TT đã dần dần khẳng định được vị trí, vai trò của mình. Những nỗ lực, phấn đấu của toàn thể CBCC của Sở đã được UBND tỉnh và Bộ TT&TT ghi nhận, khen ngợi, thể hiện qua kết quả thi đua khen thưởng: Trong 10 hoạt động, Sở được nhận Cờ thi đua của Chính phủ; 07 lần nhận cờ thi đua của Bộ TT&TT, của UBND tỉnh; 08 lần nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ TT&TT; nhiều tập thể và cá nhân của Sở được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ TT&TT, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch UBND tỉnh; tập thể Sở và 03 cá nhân đã được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, 01 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chi bộ Sở hàng năm đều đạt "trong sạch vững mạnh", các đoàn thể đều đạt "vững mạnh tiêu biểu".

Những thành quả vượt bậc của ngành TT&TT tỉnh nhà cũng như của Sở TT&TT có được như đã nêu trên trước tiên là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Thông tin và Truyền thông, sự quan tâm phối hợp, hỗ trợ của các địa phương, đơn vị, đoàn thể trong toàn tỉnh, cùng sự phấn đấu, nổ lực của từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các đơn vị, doanh nghiệp thuộc ngành thông tin và truyền thông tỉnh nhà, cũng như sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội.

Bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu, thì chính cũng do sự phát triển nhanh của lĩnh vực TT&TT cũng đã xuất hiện một số tồn tại gây bức xúc trong xã hội như: vấn nạn về Game Online; việc lợi dụng điện thoại hoặc trang tin điện tử để lăng mạ, khủng bố, lừa đảo, chống phá chính quyền; việc phá hoại hạ tầng thông tin, gây nhiễu thông tin ..vv. chưa được ngăn chặn, phòng chống kịp thời. Điều đó cho thấy công tác quản lý nhà nước có mặt chưa theo kịp tốc độ phát triển của lĩnh vực thông tin và truyền thông; trình độ cán bộ quản lý lĩnh vực này và sự quan tâm, phối hợp trong công tác quản lý của các cấp, các ngành cũng còn có bất cập. Từ đó, việc định hướng và xây dựng kế hoạch về quản lý, phát triển ngành TT&TT trong những năm sắp đến là việc hết sức cấp thiết và quan trọng, với mục tiêu chung là đẩy mạnh, tăng tốc phát triển tất cả các lĩnh vực trong ngành TT&TT song song với việc tăng cường hơn nữa hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động, dịch vụ trong ngành, trong đó có việc củng cố, nâng cao năng lực, vai trò, trách nhiệm của Sở TT&TT.

         Trong thời gian tới, Sở TT&TT Gia Lai có trách nhiệm khắc phục những khó khăn, tồn tại, phát huy những ưu điểm, thành quả đã đạt được, tiếp tục có những giải pháp tối ưu để tổ chức thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu, kế hoạch đã đề ra; trọng tâm là: Tiếp tục củng cố bộ máy, tổ chức, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước các cơ quan chuyên trách về TT&TT từ cấp tỉnh đến cấp huyện; từng CCVC, người lao động trong ngành phải không ngừng nâng cao về trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ theo kịp yêu cầu mới. Tăng cường rà soát, tiếp tục tham mưu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực TT&TT và có biện pháp để thực hiện tốt các chủ trương, chính sách về ngành. Bám sát nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương nhằm định hướng thông tin cho báo chí để phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền. Đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại. Quản lý tốt hoạt động in và xuất bản trên địa bàn. Tham mưu, đề xuất thực hiện các dự án quan trọng nhằm thực hiện Chính phủ điện tử, có các biện pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý và toàn xã hội;tích cực ứng dụng CNTT phục vụ cải cách hành chính,hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng CNTT, thực hiện thương mại điện tử. Tham mưu các giải pháp kích cầu, hỗ trợ và thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực TT&TT trên địa bàn. Hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi các quy hoạch chuyên ngành phù hợp tình hình phát triển của tỉnh. Thực hiện phổ cập các dịch vụ BCVT, Internet. Hỗ trợ các doanh nghiệp BCVT phát triển, vừa hợp tác vừa cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Quản lý chặt chẽ hoạt động truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện, đặc biệt quan tâm việc quản lý thuê bao di động trả trước, quản lý hoạt động dịch vụ Internet. Hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông phù hợp với quy hoạch đô thị và mỹ quan đô thị, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc.

         Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm đó, bên cạnh sự chủ động phấn đấu của tập thể Sở TT&TT cũng như của người lao động toàn ngành; cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, phát huy mọi nguồn lực để ngành TT&TT tỉnh Gia Lai ngày càng phát triển hơn nữa, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của tỉnh cả về kinh tế, xã hội lẫn trong việc giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội./.

                                                                                                                                                                           NNH

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 26 Tháng 10 2015 02:55 )
 
Trang 1 trong tổng số 64

Liên kết web



Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đăng nhập




caicachthutuchanhchinh

Danh sach tro choi G1

link video ma doc


 

Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Copyright© 2017 Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Địa chỉ: 17 Trần Hưng Đạo, Pleiku, Gia Lai. Điện thoại: (0269) 3717564. Fax: (0269) 3717564. Email: sogialai@mic.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Ngọc Hùng - Giám đốc Sở.
Giấy phép số: 91/GP-TTĐT cấp ngày 22/03/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông.