5:58:0 , 17/1/2018

Thanh tra

 

Làm gì để bảo vệ và phát triển rừng?

Email In PDF.

(GLO)- L.T.S: Sau khi loạt bài “Nước mắt rừng xanh” được đăng tải, Báo Gia Lai nhận được nhiều phản hồi của độc giả về việc làm sao để rừng Gia Lai thôi “chảy máu”. Xung quanh việc này, phóng viên Báo Gia Lai có cuộc trao đổi với ông Vũ Ngọc An-Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT.

P.V: Thưa ông, nhiều người cho rằng, xây dựng và phát triển rừng cộng đồng (giao rừng cho cộng đồng quản lý) là một trong những giải pháp bảo vệ rừng hiệu quả. Ý kiến của ông về vấn đề này?

thtr03
 
Xe chở gỗ trái phép bị bắt giữ tại huyện Chư Prông. Ảnh: N.G

Ông Vũ Ngọc An: Giao rừng cho cộng đồng là một chủ trương lớn và mới của Nhà nước. Từ thực tế cho thấy: Để quản lý bảo vệ có hiệu quả và bền vững thì cần có sự tham gia tích cực của người dân và cộng đồng sống liền rừng, có đời sống phụ thuộc vào rừng. Từ lâu, vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng đã được thừa nhận ở nhiều nơi và đem lại nhiều hiệu quả thiết thực. Nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng tuy chưa được pháp luật công nhận nhưng là những mô hình tốt có khả năng giải quyết hài hòa giữa nhu cầu của người dân và sự tồn tại của rừng.

Năm 2003, từ đề tài nghiên cứu khoa học của PGS.TS Bảo Huy (Trường Đại học Tây Nguyên), tỉnh giao rừng cho cộng đồng với diện tích 2.500 ha tại xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang đã đem lại một số kết quả và rút ra nhiều kinh nghiệm hay. Tuy nhiên, do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh nên kết quả của đề tài vẫn chưa được nhân rộng ra các cộng đồng khác trong tỉnh.

Dự án chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng giai đoạn 2006-2009 do Quỹ ủy thác lâm nghiệp tài trợ, Cục Lâm nghiệp làm chủ đầu tư triển khai thực hiện thí điểm ở tỉnh Gia Lai được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, hướng dẫn cụ thể, kịp thời có hiệu quả của các bộ, ngành, UBND tỉnh, các huyện, xã, cộng đồng tham gia dự án. Sau gần 3 năm thực hiện, tỉnh đã giao rừng cho 4 xã trong vùng dự án, 6 cộng đồng với diện tích là 1.374,5 ha.

thtr04
 
Ảnh: Minh Thi

Việc giao rừng cộng đồng còn nhiều bất cập về chủ trương, chính sách và do trình độ nhận thức của người dân địa phương còn nhiều hạn chế, năng lực tổ chức, quản lý rừng của cấp thôn còn yếu. Về cơ chế hưởng lợi từ rừng chưa có sản phẩm cụ thể như khai thác gỗ, lâm sản khác, do rừng giao cho cộng đồng hầu hết là rừng nghèo nên mất nhiều thời gian và kinh phí để cộng đồng có thể hưởng lợi từ khai thác rừng, hưởng lợi phải cần nhiều năm khi rừng đạt trữ lượng khai thác. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang sửa đổi, bổ sung một số chủ trương, chính sách cho phù hợp thực tế để áp dụng trong điều kiện mở rộng giao rừng cộng đồng quản lý.

Để góp phần xóa đói giảm nghèo, quản lý rừng bền vững, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh xây dựng phương án sử dụng kinh phí từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng để khoán bảo vệ rừng cho nhân dân theo hướng chọn khoảng 100.000 ha rừng nằm trong khu vực thủy điện, vùng đầu nguồn xung yếu, vùng rừng dễ bị xâm hại (gần nơi dân ở) để giao khoán cho các hộ dân quản lý, bảo vệ; diện tích giao khoán trung bình 30 ha/hộ dân, với mức khoán 400.000 đồng/ha/năm (trả hàng tháng 50% tiền mặt, 50% bằng gạo).

- P.V: Theo ông, nguyên nhân nào khiến rừng bị tàn phá?

Ông Vũ Ngọc An:  Trước năm 2000, việc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng còn nhiều hạn chế. Từ sau năm 2000, Bộ Nông nghiệp và PTNT giao lực lượng Kiểm lâm tổ chức theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên do thiếu kinh phí nên việc thống kê, theo dõi diễn biến rừng chưa đồng bộ. Hàng năm, lực lượng Kiểm lâm ở các địa phương cập nhật diễn biến trên cơ sở bản đồ và số liệu hiện trạng rừng, nhưng chất lượng tài liệu đầu vào không đồng bộ, độ tin cậy không cao. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương, chủ rừng nặng về thành tích hoặc né tránh trách nhiệm nên chưa báo cáo kịp thời với cấp thẩm quyền về thực trạng suy giảm rừng.

Cùng với đó, do nhu cầu đất ở, đất sản xuất của nhân dân, đất xây dựng từ các công trình thủy điện, thủy lợi đã được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải lâm nghiệp với diện tích 7.192 ha; chuyển đổi rừng nghèo sang trồng 28.831,6 ha; lấn chiếm và phá rừng trái phép trong thời gian từ trước năm 2000-2012 với diện tích trên 16.429,7 ha.

thtr05
 
Ảnh: Minh Thi

Do nhiều lý do nên việc bàn giao tài liệu rừng chưa cụ thể. Vì vậy, việc làm rõ diện tích rừng bị chặt phá và lấn chiếm trái phép từng thời điểm, xem xét trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị, cá nhân để xảy ra mất rừng là rất khó khăn.

- P.V: Vậy hiện công tác quản lý bảo vệ rừng như thế nào?

Ông Vũ Ngọc An:  Hiện nay, tỉnh đã tiến hành quy hoạch lại 3 loại rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp 406.006 ha cho chủ rừng là tổ chức, làm cơ sở pháp lý quản lý chặt chẽ đất lâm nghiệp theo quy định pháp luật; độ che phủ rừng theo số liệu thống kê là khá cao, đạt 46,3%, tiềm năng đất lâm nghiệp lớn; Chính phủ, bộ, ngành, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo kịp thời về công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Việc sắp xếp, đổi mới, tổ chức lại các Công ty Lâm nghiệp (thành Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp), các Ban Quản lý rừng tạo điều kiện để các chủ rừng kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực quản lý đất lâm nghiệp; tự chủ trong sản xuất kinh doanh, giải quyết những bất cập, tồn tại trong quản lý đất đai của các chủ rừng. Tình trạng đất lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả, đất không sử dụng và đất bị lấn chiếm, xâm canh, sau khi sắp xếp quy hoạch, giao địa phương quản lý.

Tuy nhiên, trình độ sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý bảo vệ, phát triển rừng của chủ rừng còn yếu. Công tác điều tra khảo sát, thống kê theo dõi diễn biến tài nguyên rừng chưa chắc chắn, vì vậy việc hoạch định phương án sản xuất kinh doanh chưa đạt hiệu quả cao. Đời sống của đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, thiếu đất sản xuất, đã gia tăng áp lực làm suy giảm dần diện tích, tài nguyên rừng. Ý thức bảo vệ và phát triển rừng của một bộ phận dân cư còn rất hạn chế, việc vận dụng một số chủ trương, chính sách của Nhà nước vào thực tế công tác quản lý bảo vệ rừng còn nhiều vướng mắc, khó khăn.

Để ngăn chặn nạn chặt phá rừng, trước mắt cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có. Tiếp tục thực hiện các chương trình xã hội hóa nghề rừng, đẩy mạnh giao khoán rừng, giao quản lý, bảo vệ số rừng chưa giao là 272.423 ha. Xác định và đóng mốc ranh giới 3 loại rừng.

- P.V: Cảm ơn ông!

 Theo báo Gia Lai điện tử

 

Phạt tới 200 triệu đồng vi phạm về đo lường

Email In PDF.

(Chinhphu.vn) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

thtr01

Ảnh minh họa

Theo đó, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực đo lường đối với cá nhân là 100 triệu đồng, đối với tổ chức là 200 triệu đồng; mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với cá nhân là 150 triệu đồng, đối với tổ chức là 300 triệu đồng, trừ một số trường hợp khác.

Không ghi lượng của hàng đóng gói sẵn trên nhãn bị phạt đến 8 triệu đồng

Nghị định nêu rõ, phạt tiền từ 4-8 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây trong sản xuất hoặc nhập khẩu hàng đóng gói sẵn: Không ghi lượng của hàng đóng gói sẵn trên nhãn hàng hóa hoặc ghi không đúng quy định; lượng của hàng đóng gói sẵn không phù hợp với thông tin ghi trên nhãn hàng hóa, tài liệu đi kèm, hoặc không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đo lường do tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu công bố.

Còn hành vi buôn bán hàng đóng gói sẵn không ghi lượng trên nhãn hàng hóa hoặc ghi không đúng quy định; buôn bán hàng đóng gói sẵn có lượng không phù hợp với thông tin ghi trên nhãn hàng hóa, tài liệu đi kèm... thì bị phạt mức thấp hơn, từ 2-4 triệu đồng.

Thêm, bớt thành phần làm giảm chất lượng hàng hóa bị phạt đến 5 lần tổng giá trị sản phẩm

Theo Nghị định, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 400.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng hóa nhưng không công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định.

Đối với hành vi bán sản phẩm, hàng hóa có chất lượng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng thì bị phạt tiền từ 1-2 lần tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm tại thời điểm vi phạm.

Phạt tiền từ 2-3 lần tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiêu chuẩn công bố áp dụng.

Phạt tiền từ 3-5 lần tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với một trong các hành vi: Bán sản phẩm, hàng hóa có chất lượng không phù hợp với quy định của quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với quy định của quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Phạt đến 20 triệu đồng vi phạm quy định về sử dụng mã số vạch

Nghị định quy định phạt tiền từ 6-10 triệu đồng đối với hành vi sử dụng trái phép mã số mã vạch của doanh nghiệp khác đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số mã vạch.

Đối với hành vi sử dụng mã số mã vạch nước ngoài để in trên sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam mà chưa được cơ quan nước ngoài có thẩm quyền hoặc không được tổ chức sở hữu mã số mã vạch đó cho phép bằng văn bản thì sẽ bị phạt tiền từ 10- 20 triệu đồng.

Nghị định nêu rõ, các mức phạt trên là áp dụng đối với tổ chức. Đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền được giảm đi một nửa.

 Theo Báo Chính phủ điện tử

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 25 Tháng 7 2013 03:29 )
   
Trang 5 trong tổng số 9

Liên kết web



Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đăng nhập




caicachthutuchanhchinh

Danh sach tro choi G1

link video ma doc


 

Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Copyright© 2018 Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Địa chỉ: 17 Trần Hưng Đạo, Pleiku, Gia Lai. Điện thoại: (0269) 3717564. Fax: (0269) 3717564. Email: sogialai@mic.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Ngọc Hùng - Giám đốc Sở.
Giấy phép số: 91/GP-TTĐT cấp ngày 22/03/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông.