0:41:19 , 4/12/2016

Công nghệ thông tin

Tổng quan về hệ thống giám sát an toàn mạng

Email In PDF.

Hệ thống giám sát an toàn mạng đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) của các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Hệ thống này cho phép thu thập, chuẩn hóa, lưu trữ và phân tích tương quan toàn bộ các sự kiện an toàn mạng được sinh ra trong hệ thống CNTT của tổ chức.

    Ngoài ra, hệ thống giám sát an toàn mạng phát hiện kịp thời các tấn công mạng, các điểm yếu, lỗ hổng bảo mật của các thiết bị, ứng dụng và dịch vụ trong hệ thống. Phát hiện kịp thời sự bùng nổ virus trong hệ thống mạng, các máy tính bị nhiễm mã độc, các máy tính bị nghi ngờ là thành viên của mạng máy tính ma (botnet).

1. Các yếu tố cơ bản của giám sát

    Để công tác giám sát an toàn mạng đạt hiệu quả cần phải xác định được các yếu tố cốt lõi, cơ bản nhất của giám sát như:
- Xác định các đơn vị, hệ thống, thiết bị, dịch vụ cần giám sát.
- Xác định trang thiết bị, giải pháp phần mềm thương mại phục vụ giám sát.
- Xác định phần mềm nội bộ và phần mềm nguồn mở phục vụ giám sát.
- Xác định các thiết bị, công cụ, giải pháp hỗ trợ phân tích kết quả giám sát: công cụ NMAP, TCPDUMP, Wireshark, Nessus...
Ngoài các trang thiết bị, công cụ, giải pháp hỗ trợ thì yếu tố con người và đặc biệt là quy trình phục vụ giám sát là vô cùng quan trọng.

2. Các giải pháp công nghệ giám sát an toàn mạng

    Hệ thống giám sát an toàn mạng có thể được xây dựng theo một trong ba giải pháp sau:
- Giải pháp quản lý thông tin an ninh: tập trung vào việc thu thập, lưu trữ và biểu diễn nhật ký.
- Giải pháp quản lý sự kiện an ninh: tập trung vào việc phân tích và xử lý các nhật ký đã được thu thập để đưa ra cảnh báo cho người dùng.
- Giải pháp quản lý và phân tích sự kiện an ninh: là sự kết hợp của cả hai giải pháp trên nhằm khắc phục những hạn chế vốn có. Vì vậy, tài liệu sẽ hướng tới xây dựng giải pháp này.

3. Giải pháp quản lý và phân tích sự kiện an ninh

    Mô hình giải pháp quản lý và phân tích sự kiện an ninh gồm 03 thành phần chính:
a. Thành phần thu thập nhật ký an toàn mạng, bao gồm các giao diện thu thập nhật ký an toàn mạng trực tiếp từ các thiết bị, dịch vụ, ứng dụng. Thành phần này có các tính năng:
- Thu thập toàn bộ dữ liệu nhật ký từ các nguồn thiết bị, ứng dụng,… gồm cả các thiết bị vật lý và thiết bị ảo hóa.
- Kiểm soát băng thông và không gian lưu trữ thông qua khả năng chọn lọc dữ liệu nhật ký.
- Phân tách từng sự kiện và chuẩn hóa các sự kiện vào một lược đồ chung.
- Tích hợp các sự kiện để giảm thiểu số lượng các sự kiện gửi về thành phần phân tích và lưu trữ.
- Chuyển toàn bộ các sự kiện đã thu thập về thành phần phân tích và lưu trữ.
b. Thành phần phân tích và lưu trữ: bao gồm các thiết bị lưu trữ dung lượng lớn và cung cấp khả năng tổng hợp, phân tích tự động. Thành phần này có các tính năng:
- Kết nối với các thành phần thu thập nhật ký để tập hợp nhật ký tập trung và tiến hành phân tích, so sánh tương quan.
- Môđun phân tích sẽ được hỗ trợ bởi các luật (được định nghĩa trước) cũng như khả năng tuỳ biến, nhằm đưa ra kết quả phân tích chính xác nhất.
- Các nhật ký an toàn mạng được tiến hành phân tích, so sánh tương quan theo thời gian thực nhằm đưa ra cảnh báo tức thời cho người quản trị. Đồng thời cũng cho phép phân tích các dữ liệu trong quá khứ, nhằm cung cấp cho người quản trị một bức tranh toàn cảnh về an toàn mạng theo thời gian.
- Hỗ trợ kết nối đến các hệ thống lưu trữ dữ liệu (như SAN, NAS) giúp nâng cao khả năng lưu trữ và xây dựng kế hoạch dự phòng, chống mất mát dữ liệu.
c. Thành phần quản trị tập trung:
- Cung cấp giao diện quản trị tập trung cho toàn bộ hệ thống giám sát an toàn mạng. Các giao diện được phân quyền theo vai trò của người quản trị.
- Hỗ trợ sẵn hàng nghìn mẫu báo cáo, các giao diện theo dõi, điều kiện lọc,... Ngoài ra, các công cụ này còn cho phép tùy biến, thay đổi hay tạo mới các báo cáo một cách dễ dàng để phù hợp với hệ thống của mình.
- Hỗ trợ các công cụ cho việc xử lý các sự kiện an toàn mạngxảy ra trong hệ thống.
d. Các thành phần khác: thành phần cảnh báo, hệ thống DashBoard theo dõi thông tin, các báo cáo phong phú đáp ứng các tiêu chuẩn quản lý, thành phần lưu trữ có khả năng lưu trữ dữ liệu lâu dài.

Theo vncert.gov.vn

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 23 Tháng 7 2015 03:04 )
 

Việt Nam – Nhật Bản thiết lập hợp tác trong lĩnh vực an toàn thông tin

Email In PDF.

Tham gia cùng Đoàn của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son tới Nhật Bản từ ngày 6-9/7/2015 theo lời mời của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và Truyền thông Nhật Bản, Cục An toàn Thông tin đã có buổi làm việc song phương với Cơ quan An toàn thông tin Nhật Bản (NISC). 

 

Cục An toàn thông tin, Bộ TT&TT Việt Nam ký kết hợp tác với Cơ quan An toàn thông tin Nhật Bản 

 
Trong khuôn khổ chuyến thăm và trước sự chứng kiến của hai Bộ trưởng hai nước, Cục An toàn thông tin và NISC đã thiết lập quan hệ đối tác và ký kết biên bản ghi nhớ nhằm xây dựng các kế hoạch hợp tác trong thời gian tới.
 
Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) này thúc đẩy sự hợp tác song phương trong lĩnh vực an toàn thông tin. Sự hợp tác này nhằm mục đích nâng cao an toàn mạng và khả năng đảm bảo an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin quan trọng của các bên, góp phần giảm thiểu sự mất an toàn thông tin trên không gian mạng của toàn thế giới.
 
Dựa trên sự đồng thuận chung, hai bên mong muốn cùng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng cơ chế, chính sách và các biện pháp chiến lược trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về an toàn thông tin và không gian mạng. Hai cơ quan cũng nhất trí tăng cường các đoàn làm việc chung, trao đổi các kinh nghiệm và thực tiễn triển khai các chính sách về an toàn thông tin.
 
Sự hợp tác giữa hai cơ quan cấp Nhà nước về an toàn thông tin là kết quả tốt đẹp của chuyến thăm trên cơ sở mối quan hệ sẵn có giữa Lãnh đạo cấp cao của hai Nhà nước. Góp phần củng cố và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Theo Mic.gov.vn
   

Dự thảo Luật an toàn thông tin: Hoàn thiện hành lang pháp lý trong kỷ nguyên Internet

Email In PDF.

Việc ban hành Luật an toàn thông tin chắc chắn sẽ tạo cơ sở tốt hơn cho hoạt động bảo đảm an toàn thông tin, làm rõ quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào môi trường mạng. 

 

 Ảnh minh họa

 
 An toàn thông tin trên mạng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức mới
 
Nhu cầu được an toàn là một trong những nhu cầu hết sức cơ bản của con người. Cùng với tiến trình phát triển, qua thời gian, xã hội đã xây dựng nên nhiều hệ thống thiết chế khác nhau để bảo đảm an toàn, chẳng hạn như an toàn giao thông, an toàn lao động hay an toàn thực phẩm. An toàn thông tin cũng tương tự như vậy. Trước kia, thông tin tồn tại chủ yếu dưới dạng bản giấy. Khi máy vi tính ra đời, thông tin có thể tồn tại dưới dạng điện tử, được lưu trữ trong phương tiện mang tin (máy vi tính, đĩa CD). Nếu thông tin tồn tại dưới dạng bản giấy hoặc lưu trữ trong phương tiện mang tin rời rạc, không kết nối mạng thì việc bảo đảm an toàn thông tin chính là bảo vệ vật lý cho phương tiện mang tin. Việc bảo vệ cho phương tiện mang tin về cơ bản là giống với việc bảo vệ các tài sản hữu hình khác, không có gì đặc thù.
 
Nhưng khi mạng trở nên phổ biến, thông tin lại được truyền đưa qua mạng, chia sẻ qua các hệ thống thông tin khác nhau như website, blog hay mạng xã hội. Khác với các môi trường truyền thống, môi trường mạng không có biên giới, ranh giới xác định. Việc bảo vệ tài sản thông tin và hệ thống thông tin trên mạng có nhiều điểm khác biệt đặc thù so với bảo vệ tài sản hữu hình thông thường. Về nguyên tắc, người sử dụng từ một điểm kết nối mạng có thể truy cập tới bất cứ điểm kết nối mạng nào khác ở bất cứ đâu trên thế giới chỉ trong thời gian rất ngắn, với chi phí ngày càng thấp. Việc theo dõi, dò quét tìm điểm yếu của hệ thống có thể tiến hành từ khoảng cách rất xa, không phụ thuộc vào vị trí địa lý. Do vậy, nguy cơ tiềm ẩn mất an toàn thông tin trên mạng hiện hữu trong từng giây.
 
Công tác bảo đảm an toàn thông tin trên mạng vì thế đã và đang đặt ra những vấn đề, thách thức rất mới, mang tính “phi truyền thống”, đòi hỏi tất cả mọi người, trong đó đặc biệt các nhà lập pháp, phải quan tâm.
 
Một số vấn đề “nóng” trong dự thảo Luật
 
Nội hàm khái niệm an toàn thông tin
 
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 14/7/2013 của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa: An toàn thông tin là sự bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mậttính khả dụng của thông tin. Cách giải thích khái niệm này là hoàn toàn tương đồng với cách giải thích khái niệm trong văn bản luật mà Hoa Kỳ đã ban hành (Luật FISMA năm 2002). Dự thảo Luật an toàn thông tin tiếp tục sử dụng khái niệm “an toàn thông tin” với nội hàm như vậy.
 
Có thể nói một cách ước lệ, dự thảo Luật an toàn thông tin trên mạng cũng tương tự như Luật giao thông đường bộ hay Luật an toàn thực phẩm. Dự thảo Luật an toàn thông tin tập trung vào các vấn đề kỹ thuật nhằm bảo đảm quá trình truyền tải thông tin được nguyên vẹn, không bị sửa đổi, tiết lộ, gián đoạn. Dự thảo Luật không điều chỉnh các vấn đề về nội dung thông tin. Các vấn đề về nội dung thông tin hiện đã và đang được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác, chẳng hạn Luật Báo chí. Điều này cũng giống như trong an toàn giao thông, chỉ tập trung vào các vấn đề kỹ thuật như phương tiện tham gia giao thông phải có phanh, đi buổi tối phải bật đèn, có tiêu chuẩn khí thải phù hợp, không được chạy xe quá tải, quá khổ v.v… 
 
Bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin
 
Thông tin trên mạng đã trở thành tài sản của mỗi cá nhân, tổ chức và thậm chí cả quốc gia. Có nhiều cá nhân, tổ chức mà tài sản của họ trên mạng còn lớn hơn nhiều các tài sản hữu hình khác. Các doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu các thông tin hoặc hệ thống thông tin này bị đánh cắp hay bị phá hoại. Các cơ quan nhà nước thì không thể phục vụ người dân nhanh chóng và thuận tiện nếu các website của họ không hoạt động bình thường. Cải cách hành chính, chính phủ điện tử, thương mại điện tử và một loạt chương trình lớn của quốc gia sẽ không thể thực hiện được nếu an toàn thông tin không được bảo đảm. Một cá nhân cũng sẽ bị thiệt hại nếu các thông tin cá nhân bị đánh cắp, bị làm sai lệch.
 
Thời gian vừa qua, nhiều website của các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, bị tấn công, phá hoại, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng. Đơn cử, ngày 13/10/2014, Trung tâm dữ liệu của VCCorp, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trực tuyến lớn ở Việt Nam gặp sự cố. Sự cố này ảnh hưởng tới hàng trăm trang thông tin điện tử của Việt Nam, trong đó có một số hệ thống thương mại điện tử, một số tờ báo điện tử lớn có hàng triệu người đang sử dụng dịch vụ. Tin tặc không loại trừ một quốc gia, một tổ chức hay cá nhân nào, ngay cả nước Mỹ, một trong những nước phát triển nhất trên thế giới về CNTT, cũng gặp không ít rắc rối với chúng. Trong bối cảnh đó, mỗi cá nhân, tổ chức có “tài sản mềm” cần tự có trách nhiệm, cần nhận thức đầy đủ hơn và có biện pháp bảo vệ phù hợp với loại tài sản này. 
 
Trước hết, để bảo vệ, cần tiến hành phân loại, xác định cấp độ theo mức độ quan trọng của thông tin và hệ thống thông tin. Sau đó, cũng giống như trong cuộc sống, để bảo vệ tài sản hữu hình có giá trị, người ta sử dụng phổ biến các loại khóa. Đối với “tài sản mềm” là thông tin, các loại “khóa mềm” chính là sản phẩm mật mã thương mại, phần mềm bảo vệ hoặc chữ ký số. Người sử dụng thường không thể tự làm ra khóa cho tài sản của mình, mà thường là phải mua khóa của các doanh nghiệp sản xuất khóa có uy tín, được nhà nước cho phép. 
 
Bên cạnh đó, nếu chúng ta không thể đủ sức tự chống lại tin tặc xâm phạm trái phép, thì chúng ta có thuê dịch vụ. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn thông tin sẽ “am hiểu” rất sâu về hệ thống thông tin của khách hàng. Cũng giống như các doanh nghiệp kiểm toán sẽ “am hiểu” về cơ cấu thu chi tài chính của doanh nghiệp mà họ thực hiện kiểm toán. Rõ ràng rằng, để bảo đảm quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên, đây phải là một loại hình kinh doanh có điều kiện!
 
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, “tài sản mềm” của cá nhân, tổ chức này lại đang được lưu giữ trong hệ thống của cá nhân, tổ chức khác. Chẳng hạn, các bài viết trên báo điện tử Dân Trí đang được lưu trữ trong trung tâm dữ liệu của công ty VCCorp; hàng triệu thông tin cá nhân của người sử dụng đang được lưu trữ tại các doanh nghiệp viễn thông. Khi một tổ chức lưu giữ “tài sản mềm” của một hay nhiều tổ chức, cá nhân khác, tổ chức này phải có một số trách nhiệm pháp lý tối thiểu trong việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn cho “tài sản mềm” đó. 
 
Ba nhóm vấn đề nêu trên là những vấn đề mà hành lang pháp lý hiện hành đang còn thiếu. Nội dung dự thảo Luật an toàn thông tin hướng tới điều chỉnh những vấn đề như vậy.
 
Đầu tư cho an toàn thông tin chưa tương xứng
 
Tiếc rằng, hiện nay, vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân chỉ nhận ra hậu quả khi đã bị tin tặc tấn công. Sau khi bị thiệt hại lớn, người ta lại mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để khôi phục dữ liệu cho hệ thống của mình hoạt động trở lại. Thậm chí trong một số trường hợp là không thể khôi phục được! Nếu như người ta đầu tư một phần cho việc phòng cháy, thì sẽ tốn kém rất ít so với chi phí để chữa cháy và khôi phục tài sản bị cháy. Công tác bảo đảm an toàn thông tin của mỗi cá nhân, tổ chức, suy rộng ra là của cả quốc gia phải là một chi phí thường xuyên, chiếm tỷ lệ nhất định trong nguồn tài chính của cá nhân, tổ chức và của cả quốc gia đó. Nên chăng, dự thảo Luật cần có quy định cụ thể về việc này?
 
An toàn thông tin góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh
 
Mất an toàn thông tin sẽ dẫn tới thiết bị cũng như hệ thống thông tin có thể bị khống chế để thực hiện các cuộc tấn công mạng quy mô lớn nhằm vào mục tiêu quan trọng, hoặc đánh cắp các thông tin bí mật, nhạy cảm, hoặc bị lợi dụng để phát tán thông tin độc hại. Vì vậy, việc bảo đảm an toàn thông tin chính là cơ sở để thực hiện bảo đảm an ninh thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước. 
 
Việc ban hành Luật an toàn thông tin chắc chắc sẽ không thể nào loại bỏ hoàn toàn sự cố mất an toàn thông tin, cũng giống như Luật giao thông đường bộ sẽ không thể nào loại bỏ hoàn toàn sự cố mất an toàn giao thông, Luật an toàn thực phẩm không loại bỏ hoàn toàn sự cố ngộ độc. Nhưng việc ban hành Luật chắc chắn sẽ tạo cơ sở tốt hơn cho hoạt động bảo đảm an toàn thông tin, làm rõ quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào môi trường mạng./.
Theo Mic.gov.vn
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 17 Tháng 6 2015 00:54 )
 

Giải quyết những lỗi thường gặp trên Google Play Store

Email In PDF.

Nếu là một người dùng thường hay tìm tòi các ứng dụng mới, hẳn đôi lần bạn gặp phải các thông báo lỗi từ Google Play Store. Các thông báo lỗi này phần lớn là những mã số khó hiểu.
 

Google Play Store Error 403

Mô tả lỗi:

Tiến trình tải về không xảy ra và người dùng được thông báo rằng yêu cầu bị cấm (request is forbidden). Lỗi này thường xảy ra khi người dùng thử sử dụng hai tài khoản Google khác nhau để tiến hành mua ứng dụng trên cùng một thiết bị. Đối với mã lỗi 403 này có 5 phương án giải quyết vấn đề, và bạn nên thử theo thứ tự từ trên xuống:

1. Vào Google Play Store bằng tài khoản Google chính của thiết bị. Tiến hành gỡ bỏ ứng dụng bị lỗi. Thử tải lại ứng dụng.

2. Gỡ thiết lập proxy trước đó nếu có, bằng cách vào Settings - Wireless Networks.

3. Nếu vẫn không được, hãy thử xóa bỏ lịch sử tìm kiếm trên Play Store bằng cách vào Settings (trên chợ ứng dụng) - Clear Search History.

4. Tạo thêm một tài khoản Google mới và sử dụng nó cho Play Store. Thay đổi tài khoản bằng cách vào Google Play Store - Menu - Select Accounts - chọn tài khoản mới tạo và thử tải lại ứng dụng.

5. Cuối cùng, nếu mọi việc vẫn chưa được giải quyết, hãy gỡ bỏ các tài khoản Google phụ, chỉ để lại duy nhất tài khoản chính, khởi động lại thiết bị và sau đó tiến hành tải cũng như cài đặt lại ứng dụng.
 

Google Play Store Error 492

Mô tả lỗi: Bạn không thể cài đặt ứng dụng vì bộ đệm Davlik.
Cách giải quyết khá đơn giản: vào Settings - Apps - chọn tab All để liệt kê tất cả ứng dụng và dịch vụ trên thiết bị, sau đó tìm đến nơi có các dịch vụ Google - chọn Clear Data - Force Stop. Tiến hành lại với ứng dụng Google Play Store rồi tải lại ứng dụng.

Google Play Store Error 495

Mô tả lỗi: Người dùng gặp vấn đề khi tải về hoặc cập nhật ứng dụng từ Play Store.
Cách giải quyết:
1. Xóa dữ liệu của Google Play Store bằng cách vào Settings - Apps - chọn tab All - chọn Google Play Store và tiến hành Clear Data.
2. Xóa dữ liệu từ Google Services Frameworks. Điều này cũng tương tự như khi tiến hành factory reset lại thiết bị, khi đó chiếc điện thoại của bạn sẽ được gán một Google ID mới, các ứng dụng sẽ lại hoạt động bình thường.
3. Xóa tài khoản Google trên thiết bị, sau đó khởi động lại máy và nhập lại tài khoản Google cũ (Settings - Account - Add Account - Google Account), cuối cùng tiến hành tải hoặc cập nhật lại.

Google Play Store Error 498

Mô tả lỗi: Các tiến trình tải về ứng dụng bị ngắt vì bộ đệm của thiết bị không còn đủ dung lượng trống.
Lỗi này giải quyết đơn giản bằng cách xóa bớt bộ đệm, gỡ cài đặt các ứng dụng không cần thiết để tăng dung lượng trống rồi khởi động lại máy. Sau đó tiến hành tải lại ứng dụng.

Google Play Store Error 919

Mô tả lỗi: Ứng dụng vừa tải về không hoạt động vì không còn đủ dung lượng trống trên thiết bị.
Cách giải quyết như lỗi 498, tăng dung lượng trống bằng cách xóa bớt các tập tin không cần thiết, giải phóng bộ đệm…

Google Play Store Error 921

Mô tả lỗi: Gần như không thể tiến hành tải về ứng dụng dù bạn có làm gì đi nữa. Nếu lỗi 921 xảy ra, hãy thử hai cách sau đây:
1. Xóa bộ đệm của Google Play Store. Nếu tình hình chưa được giải quyết thì hãy thử xóa dữ liệu (Clear Data) của Play Store, tuy nhiên cần nhớ là nếu xóa dữ liệu, ứng dụng Play Store sẽ mất hết tất cả những thiết lập mà bạn đã tinh chỉnh trên thiết bị.
2. Nếu lỗi 921 vẫn còn "cứng đầu" thậm chí ngay cả khi đã xóa dữ liệu Play Store, bạn hãy gỡ bỏ tài khoản Google hiện tại, khởi động lại máy, nhập lại tài khoản Google và thử lại.

Google Play Store Error 927
 

Mô tả lỗi: Không thể tiến hành tải về ứng dụng vì Google Play Store đang cố gắng cập nhật mới.
Giải pháp:
1. Kiên nhẫn chờ đợi Google Play Store cập nhật xong và thử lại.

2. Nếu sau khi cập nhật, lỗi vẫn xảy ra thì hãy vào Settings - Apps - chọn tab All - Google Services - Clear Data và Force Stop. Tiến hành tương tự với ứng dụng Play Store và thử lại sau.

Google Play Store Error 941

Mô tả lỗi: Có gián đoạn xảy ra khi đang thực hiện cập nhật phiên bản mới. Hướng xử lý:

Vào Settings - Apps - chọn tab All - Google Play Store - Clear Cache và Clear Data. Sau đó cũng tại tab All của Apps tìm đến Download Manager - Clear Cache và Clear Data rồi thử cập nhật lại.

Hầu như các lỗi thường gặp trên Google Play Store đều có cách giải quyết tương tự như nhau là xóa bộ đệm, xóa dữ liệu, một số trường hợp cần gỡ bỏ tài khoản Google hoặc factory reset lại thiết bị. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng cần nhớ sao lưu các dữ liệu cá nhân quan trọng rồi mới xử lý lỗi theo các hướng giải quyết đã đưa ra.

Theo Báo Gia Lai điện tử

 
Trang 4 trong tổng số 25

Liên kết web



Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đăng nhập




caicachthutuchanhchinh

Danh sach tro choi G1

link video ma doc


Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Copyright© 2016 Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Địa chỉ: 17 Trần Hưng Đạo, Pleiku, Gia Lai. Điện thoại: (059) 3717564. Fax: (059) 3717564. Email: sogialai@mic.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Ngọc Hùng - Giám đốc Sở.
Giấy phép số: 186/GP-TTĐT cấp ngày 19/10/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông.