Trang chủ > Tin Tức > Tin tổng hợp
Gia Lai khai mạc Hội thi Tin học trẻ lần thứ XVIII
Gia Lai khai mạc Hội thi Tin học trẻ lần thứ XVIII

Ngày 11-6, Tỉnh đoàn, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Gia Lai phối hợp tổ chức khai mạc Hội thi Tin học trẻ tỉnh Gia Lai lần thứ XVIII, năm 2018.

Quang cảnh buổi khai mạc. Ảnh: N.S
Quang cảnh buổi khai mạc. Ảnh: N.S

Hội thi Tin học trẻ tỉnh Gia Lai lần thứ XVIII, năm 2018 có sự tham gia của 129 thí sinh đến từ các khối thi Tiểu học, THCS và THPT trên địa bàn toàn tỉnh. Hội thi tin học trẻ khối cán bộ, viên chức lần thứ 3 có 40 thí sinh. Các thí sinh tham gia dự thi theo 2 phần gồm: thi kiến thức, kỹ năng về tin học và sản phẩm sáng tạo.

Hội thi Tin học trẻ là một hoạt động nhằm tạo ra phong trào thi đua, động viên, khuyến khích thanh thiếu niên học tập, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các kiến thức khoa học về công nghệ thông tin và đào tạo, bồi dưỡng phát huy những tài năng tin học trẻ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ban Tổ chức sẽ công bố kết quả và trao giải vào chiều 12-6, các thí sinh xuất sắc đạt thành tích cao trong hội thi lần này sẽ được tuyển chọn để bồi dưỡng tham gia Hội thi Tin học cấp toàn quốc năm 2018.

Theo baogialai.com.vn



Hơn 90% người có công hài lòng về việc chi trả chế độ qua Bưu điện
Hơn 90% người có công hài lòng về việc chi trả chế độ qua Bưu điện
Sau hơn 1 năm thực hiện thí điểm mở rộng chi trả trợ cấp ưu đãi Người có công với cách mạng qua Bưu điện tại 06 địa phương (Quảng Nam, Đắk Nông, Bắc Kạn, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai), đến nay hơn 90% người nhận đều hài lòng và đề nghị tiếp tục nhận trợ cấp ưu đãi qua hệ thống Bưu điện. Hiện nay, hàng tháng Bưu điện thực hiện chi trả hơn 170 tỉ đồng cho khoảng 115 nghìn đối tượng.
 

201868-u1.jpg

Toàn cảnh hội nghị sơ kết việc thực hiện thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng qua hệ thống bưu điện

Chi trả qua Bưu điện: nhiều lợi ích thiết thực
 
Hiện nay, việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng  được thực hiện theo mô hình 3 bên thông qua việc ký Hợp đồng trách nhiệm chi trả giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, Ủy ban nhân dân xã và cán bộ chi trả tại địa phương. Tuy nhiên, nhằm đổi mới công tác chi trả này với phương thức hiện đại hơn, từ tháng 8/2015 tỉnh Quảng Nam đã ứng dụng việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng thông qua Bưu điện. Đến tháng 6/2017, việc thí điểm chi trả theo hình thức mới đã được triển khai tại 06 tỉnh: Quảng Nam, Đắk Nông, Bắc Kạn, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai.

Tại Hội nghị Sơ kết việc thực hiện thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng qua hệ thống bưu điện diễn ra vào ngày 7/6, đại diện Lãnh đạo 06 Sở LĐ-TB&XH tại các địa phương trên đều có một nhận định chung là việc chi trả luôn đảm bảo đúng đối tượng, chi đủ số tiền, đúng thời gian quy định. Tính từ thời điểm bắt đầu triển khai đến nay, chưa xảy ra tình trạng mất an toàn về tiền mặt tại tất cả các địa phương thí điểm.
 
Qua khảo sát của ngành LĐTB&XH, đánh giá mức độ hài lòng về việc chi trả qua hệ thống Bưu điện tại 05 địa phương (TP. Hồ Chí Minh chưa thực hiện khảo sát do mới triển khai) hơn 90% đối tượng thụ hưởng đều bày tỏ hài lòng về việc nhận chế độ chính sách theo phương thức mới qua hệ thống Bưu điện.

Theo ông Lê Sáu, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH Quảng Nam, mô hình chi trả này là một bước đi mới, nó tách biệt việc chi trả chế độ với công tác quản lý đối tượng. Qua đó không chỉ góp phần giảm tải các phần việc cho cán bộ chi trả xã, phường mà còn tạo điều kiện để những cán bộ này giành nhiều thời gian hơn để tập trung cho công tác chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng kịp thời việc nghiên cứu, hướng dẫn chế độ chính sách. Đặc biệt, việc chi trả qua hệ thống Bưu điện cũng góp phần minh bạch, tránh được những tiêu tiêu cực có thể xảy ra.
 
Ứng dụng CNTT trong chi trả chế độ cho người có công
 
Hiện nay việc chi trả chế độ cho người có công tại các địa phương đang được thực hiện toàn bộ trên phần mềm quản lý và chi trả các chế độ trợ cấp ưu đãi người có công. Qua đó giúp cho các đơn vị quản lý nắm bắt kịp thời về số người hưởng đã lĩnh tiền, thời gian lĩnh; số người chưa lĩnh, số tiền phải nộp về cuối ngày... Đặc biệt, hệ thống phần mềm còn hỗ trợ nhận dạng người nhận tiền qua ảnh chụp được lưu trên hệ thống. Nhờ đó, khi người thụ hưởng đến các điểm chi trả để lĩnh tiền không cần mang giấy tờ tùy thân, nhân viên chi trả có thể nhận diện người thụ hưởng qua phần mềm.
 
Đặc biệt đối với những đối tượng hưởng cả hai chế độ lương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công, Bưu điện đã thực hiện thí điểm liên kết phần mềm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công và phần mềm chi trả lương hưu để hỗ trợ những đối tượng hưởng nhận cả 2 chế độ. Phần mềm hiển thị số tiền của mỗi loại chế độ, tổng số tiền được lĩnh và các thông tin liên quan.
 
Theo đại diện của Sở LĐ-TB&XH Đắk Nông, nếu không ứng dụng công nghệ thông tin vào việc chi trả chế độ, việc kiểm tra giấy tờ, thông tin sẽ khiến người hưởng phải chờ lâu hơn, do đó tiến độ chi trả cũng sẽ chậm hơn. Phần mềm chi trả hiện nay không chỉ hỗ trợ tìm kiếm người hưởng bằng mã vạch, nhận dạng người hưởng và người uỷ quyền qua ảnh, lưu trữ thông tin và lịch sử nhận tiền của người hưởng. Do đó, cơ quan quản lý có thể xem kết quả, thống kê số liệu chi trả trên hệ thống để có các giải pháp quản lý kịp thời.
 
Ông Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Bưu điện Việt Nam cho biết, hiện nay, tại một số địa phương Bưu điện đang thực hiện chi trả đồng thời các chính sách an sinh xã hội như: chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp xã hội thông qua giải pháp chi trả qua thẻ lĩnh tiền điện tử (Emoney). Đặc biệt, hệ thống thanh toán này dự kiến sẽ được tích hợp với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội mà Bộ LĐ-TB&XH đang xây dựng theo Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội. Triển khai chi trả trợ cấp ưu đãi cho người có công qua hệ thống Bưu điện sẽ tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất về người hưởng các chính sách an sinh xã hội, giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nước dễ dàng quản lý được việc thực hiện chi trả các chính sách cũng như sự biến động thông tin của người hưởng. 
 
Sẽ mở rộng địa bàn chi trả chế độ cho người có công
 
Theo báo cáo tại Hội nghị Sơ kết việc thực hiện thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng qua hệ thống bưu điện, nếu tính bình quân thời gian chi trả là 5 phút/1 đối tượng, thời gian nhận tiền, chuẩn bị tiền và thực hiện các chứng từ thanh quyết toán là 16h/1 xã phường (02 ngày làm việc), thì với việc thực hiện chi trả qua Bưu điện, hàng tháng tại 6 địa phương đang triển khai thí điểm sẽ tiết kiệm được hơn 2.500 ngày công (tương đương 120 lao động) phục vụ cho công tác chi trả tại xã,  phường. Tính rộng ra trên cả nước, hàng năm sẽ tiết kiệm được hàng trăm nghìn ngày công, với hàng nghìn lao động phục vụ cho công tác chi trả tại các xã, phường.
 
Từ thành công của việc triển khai cung cấp các dịch vụ công trên mạng lưới như chi trả lương hưu và các chế độ BHXH, chi trả trợ cấp xã hội, thu thuế... cùng hệ thống công nghệ thông tin với các phần mềm chi trả, quản lý người được hưởng ưu việt, quy trình chi trả trợ cấp được thực hiện nhanh gọn, đúng đối tượng. Tại Hội nghị sơ kết việc thực hiện thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng qua hệ thống bưu điện, đa số các ý kiến đều đề xuất với Bộ LĐ-TB&XH tiếp tục mở rộng việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với các mạng. Đồng thời tích hợp việc chi trả các chế độ vào cùng một lần để các đối tượng được hưởng cùng lúc các chế độ trợ cấp hàng tháng.
 
Đánh giá cao kết quả triển khai thí điểm trong thời gian qua, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Tấn Dũng khẳng định, việc chi trả trợ cấp người có công qua Bưu điện là việc cải cách thủ tục hành chính, hướng tới xây dựng nền hành chính công chuyên nghiệp, hiệu quả và minh bạch cũng như hướng tới hiện đại hóa trong việc chi trả, quản lý người có công. Theo đó, Thứ trưởng Lê Tấn Dũng yêu cầu các địa phương nghiên cứu, đánh giá kỹ mô hình chi trả này để tiến tới mở rộng địa bàn triển khai chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng. Tuy nhiên cần đảm bảo thận trọng, người hưởng được phục vụ tốt hơn, công tác chi trả đảm bảo an toàn, tách bạch công tác quản lý và chi trả tạo sự minh bạch.
 
Được biết, hiện đang có gần 20 Sở LĐTB&XH và Bưu điện tỉnh đã có chủ trương thống nhất về việc triển khai chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng như: Hưng Yên, Ninh Thuận, Tuyên Quang, Long An, Hậu Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Nghệ An, Thanh Hóa, An Giang, Bắc Ninh... Nếu được Bộ LĐ-TB&XH chấp thuận, dự kiến việc các địa phương này sẽ triển khai việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công theo phương thức mới ngay trong quý III/2018.

Theo Mic.gov.vn



Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai: "Nâng cao ý thức trách nhiệm, tránh đùn...
Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai: "Nâng cao ý thức trách nhiệm, tránh đùn đẩy"

Đó là một trong những chỉ đạo của Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Võ Ngọc Thành tại Hội nghị sơ kết nhiệm vụ công tác tháng 5 và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2018 diễn ra chiều 5-6.
Những kết quả khả quan
Theo báo cáo, đến nay, toàn tỉnh đã gieo trồng 42.564 ha cây trồng vụ mùa, đạt 20,9% kế hoạch. Các hồ chứa thủy lợi, đập dâng đảm bảo cung cấp nước phục vụ sản xuất. Công tác phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng được theo dõi thường xuyên nên chỉ xuất hiện một số loại sâu bệnh thông thường trên diện hẹp. Tỉnh cũng đã tập trung triển khai công tác tiêm phòng vắc xin lở mồm long móng type O cho gia súc tại 13/17 huyện, thị xã, thành phố.

Quang cảnh hội nghị.    Ảnh: G.K
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: G.K

Về chương trình xây dựng nông thôn mới, ông Trương Phước Anh-Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, cho biết, tỉnh đã triển khai xây dựng bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 áp dụng thực hiện trên địa bàn tỉnh; tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để hướng dẫn, hỗ trợ 11 xã đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới, thị xã An Khê hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Dự kiến, năm 2018, ngoài 11 xã đã đăng ký thì sẽ có thêm 2 xã nữa đạt chuẩn nông thôn mới.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm ước tăng 6,25% so với cùng kỳ năm 2017. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh năm 2010) tháng 5 ước thực hiện 1.660 tỷ đồng, tính chung 5 tháng đạt gần 1.200 tỷ đồng, bằng 36,4% kế hoạch. Công tác đầu tư xây dựng cơ bản đã được tập trung triển khai, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Theo kế hoạch, vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước năm 2018 do tỉnh quản lý là 2.974,66 tỷ đồng, trong đó, ngân sách địa phương 1.239 tỷ đồng, ngân sách Trung ương 1.735 tỷ đồng. Trong số 64 dự án khởi công mới, đến cuối tháng 5 có 1 dự án hoàn thành, 45 dự án đang triển khai thi công, các dự án khác đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư. Tính đến ngày 30-5, toàn tỉnh giải ngân đạt 19,86% kế hoạch.

Trong tháng 5, giá lương thực, thực phẩm tương đối ổn định, nhiều mặt hàng trên thị trường có chương trình khuyến mãi, giảm giá đã kích thích tiêu dùng của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 5 ước đạt 4.291 tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước; tính chung 5 tháng đầu năm ước đạt 22.211 tỷ đồng, bằng 38,63% kế hoạch. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 tăng 0,31% so với tháng 4, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2017. Thu ngân sách trên địa bàn tháng 5 đạt 393,4 tỷ đồng, tính chung 5 tháng đạt trên 1.960 tỷ đồng, bằng 49,28% dự toán Trung ương giao, bằng 46,74% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 5,28% so với cùng kỳ. Ngành ngân hàng tiếp tục triển khai cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, tưới tiết kiệm nước, tái canh cà phê... Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến cuối tháng 5 ước đạt 33.400 tỷ đồng, tăng 3,5% so với cuối năm 2017.
Các lĩnh vực giao thông-vận tải, tài nguyên-môi trường, giáo dục, y tế, lao động-thương binh và xã hội, khoa học-công nghệ, văn hóa, thể thao... cũng đạt được nhiều kết quả đáng mừng. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục được giữ vững ổn định.
Tập trung tháo gỡ vướng mắc
Tuy kinh tế-xã hội của tỉnh trong 5 tháng đầu năm đạt được nhiều kết quả khả quan, song vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Theo báo cáo của Sở Công thương, kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh 5 tháng đầu năm giảm. Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 28,06 triệu USD, tổng 5 tháng đầu năm chỉ đạt 207,1 triệu USD, bằng 44,1% kế hoạch, giảm 17,58% so với cùng kỳ năm 2017. Lý giải nguyên nhân, ông Bùi Khắc Quang-Giám đốc Sở Công thương cho biết là do các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực như cà phê, cao su, tiêu hạt giảm mạnh.
Một số khó khăn khác cũng được đại diện lãnh đạo các sở, ngành chỉ ra như: tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản chậm, lúng túng trong giải tỏa đền bù, giải ngân thấp. Quản lý quy hoạch, quản lý tài nguyên khoáng sản còn bất cập. Việc triển khai các dự án đầu tư của các doanh nghiệp còn nhiều dự án kéo dài. Tai nạn giao thông tăng cao, tệ nạn xã hội đáng lo ngại...
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Võ Ngọc Thành yêu cầu các sở, ngành và các địa phương phải phối hợp làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, giải quyết các thủ tục; các ngành liên quan hàng tuần họp để nắm bắt tình hình, cùng tháo gỡ những vướng mắc. Ngành Công an cần tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo các địa phương tuyên truyền, vận động những người dân giao nộp vũ khí; nỗ lực xử lý tốt vấn đề an ninh chính trị khu vực nông thôn. “Tín dụng đen” cũng là vấn đề nhức nhối. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị ngành Ngân hàng nên có kênh cho vay tập thể như phụ nữ, nông dân... Đề nghị Công an tỉnh chỉ đạo Công an các huyện rà soát những tổ chức, những nhóm chuyên cho vay, bảo kê... Chủ tịch UBND tỉnh đặc biệt lưu ý Sở Tài nguyên và Môi trường: “Phải siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong quản lý đất đai, ai vi phạm phải đình chỉ ngay. Giám đốc Sở phải kiểm tra, kiểm soát, quán xuyến toàn bộ, nâng cao trách nhiệm”.
Gia Lai bắt đầu bước vào mùa mưa, do vậy, Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT triển khai ngay kế hoạch ứng phó với mưa bão; theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để có lịch gieo trồng, trồng rừng phù hợp. Các ngành, địa phương tập trung các nguồn lực để triển khai xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, xóa nghèo cho các gia đình chính sách. Tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản, đến hết tháng 6-2018, huyện nào, ngành nào không thực hiện được mục tiêu giải ngân 40% cũng sẽ phải xử lý. Triển khai tốt các nhiệm vụ đảm bảo cho kỳ thi THPT Quốc gia. Tập trung xử lý các vấn đề về môi trường, vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tài nguyên khoáng sản. Các sở, ngành nâng cao trách nhiệm đối với lĩnh vực mình phụ trách, không đổ trách nhiệm cho địa phương./.

Theo baogialai.com.vn



Default news teaser image
Thông tin và Truyền thông Gia Lai - Thành quả năm 2017 và nhiệm vụ của năm 2018
Là một Sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, năm 2017, Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Gia Lai đã tiếp tục chủ động tham mưu UBND tỉnh hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, triển khai hoàn thành nhiều nhiệm vụ, dự án về phát triển trên lĩnh vực TT&TT.

th1.jpg
Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ ngành Thông tin và Truyền thông năm 2018
Theo đó, về công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính thì đến nay, 100% Sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã đã đưa vào sử dụng hiệu quả hệ thống quản lý văn bản và điều hành; hoàn thành việc liên thông văn bản điện tử 4 cấp (trung ương-tỉnh-huyện-xã), triển khai hiệu quả mô hình "Một cửa điện tử liên thông"; hoàn thiện và tích hợp phần mềm “Quản lý giao việc” của UBND tỉnh vào hệ thống phần mềm Quản lý văn bản và điều hành đang dùng chung trên toàn tỉnh, công khai tình hình thực hiện công việc của sở/ngành/địa phương được giao của tỉnh; đến nay đã xây dựng 301 dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3 và 52 DVCTT mức độ 4/1.883 dịch vụ công các loại, tổ chức thực hiện tốt việc quản lý, xử lý kịp thời các sự cố của Cổng thông tin điện tử tỉnh và các trang thông tin điện tử của các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh luôn đảm bảo an toàn dữ liệu, thuận tiện cho người dân truy cập; chỉ số mức độ sẵn sàng cho ứng dụng CNTT của tỉnh đã tăng qua các năm gần đây (năm 2015, Gia Lai xếp thứ 44, năm 2016 xếp thứ 38, năm 2017 xếp thứ 37). Công tác quản lý thuê bao trả trước và quản lý tần số vô tuyến điện được tăng cường. Doanh thu bưu chính, viễn thông năm 2017 đạt 1.663 tỷ đồng; đạt 100% kế hoạch năm, góp phần đáng kể vào thu ngân sách của tỉnh; Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tỉnh Gia Lai đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 đã được tỉnh phê duyệt là cơ sở để các đơn vị, doanh nghiệp triển khai phát triển hạ tầng và mạng lưới thông tin. Tổ chức tốt việc quản lý, xử lý và đề xuất xử lý các vụ việc thông tin trên báo chí và trên mạng xã hội có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, đơn vị, cá nhân,...  là những kết quả đã được tỉnh ghi nhận trong quản lý lĩnh vực TT&TT.
Đã thực hiện tốt việc quản lý, vận hành và kiểm tra, giám sát, cập nhập, vá lỗi bảo mật cho hệ thống Hosting, đảm bảo duy trì hệ thống luôn hoạt động ổn định 24/24h. Trong năm 2017, đã thực hiện xử lý trên 200 cuộc tấn công khai thác lỗi lỗ hỏng bảo mật của các website được xây dựng trên phần mềm mã nguồn mở phiên bản cũ; 1.507 cuộc tấn công DDos; hỗ trợ xử lý hoàn thành sự cố các hệ thống công nghệ thông tin cho các cơ quan, đơn vị với hơn 4.475 cuộc gọi thông qua đường dây nóng. Tổ chức thực hiện tốt việc quản lý, xử lý kịp thời các sự cố của Cổng thông tin điện tử tỉnh và các trang thông tin điện tử của các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Gia Lai luôn đảm bảo an toàn dữ liệu, thuận tiện cho người dân truy cập.
      Tại các huyện, thị xã, thành phố, Ủy ban nhân dân các địa phương đã chỉ đạo vận hành, duy trì và sử dụng tốt các hệ thống thông tin đã đầu tư như hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến, đảm bảo phục vụ các cuộc họp do Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Sở ban ngành của tỉnh triển khai với cấp huyện; hệ thống “Quản lý văn bản và điều hành liên thông” đã được UBND cấp huyện triển khai đến tất cả UBND các xã, phường, thị trấn của tỉnh; hệ thống "Một cửa điện tử liên thông" cơ bản hoạt động ổn định, hiệu quả, giảm thời gian xử lý công việc, tăng tính công khai, minh bạch đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp; một số địa phương đã quan tâm, bố trí được kinh phí triển khai mô hình “một cửa điện tử liên thông” đến UBND các xã, thị trấn của huyện. Các huyện đã quản lý chặt chẽ, hiệu quả hoạt động bưu chính, viễn thông trên địa bàn, đảm bảo thông tin liên lạc, vận chuyển thư, báo, công văn, tài liệu đến các xã trong ngày phục vụ sự lãnh đạo, điều hành của các cấp chính quyền, nhu cầu thông tin của nhân dân và đảm bảo công tác an ninh – quốc phòng địa phươnh; hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp viễn thông trong việc cấp phép xây dựng trạm thông tin di động (trạm BTS) trên địa bàn đảm bảo quy định. Các Đài Truyền thanh -Truyền hình huyện hoạt động thường xuyên liên tục, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân; thường xuyên tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, huyện; UBND cấp huyện đã thực hiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy chế về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Công tác quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại tiếp tục được các địa phương quan tâm. Công tác thông tin cơ sở đã đạt được những hiệu quả tích cực trong việc phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Kịp thời đưa  thông tin, kiến thức cần thiết đến với nhân dân, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững. Ngoài ra, địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Sở TT&TT trong việc triển khai Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới; Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững.
     Bên cạnh những kết quả đạt được thì ngành TT&TT của tỉnh cũng còn một số tồn tại như việc thực hiện bảo đảm an toàn, an ninh thông tin chưa được các đơn vị, địa phương quan tâm đúng mức, một số máy vi tính không cài đặt chương trình diệt virus, các cán bộ công chức viên chức không thực hiện việc sao lưu dự phòng dữ liệu công việc; các dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3,4 tuy đã được tỉnh và các sở, ngành xây dựng nhưng các doanh nghiệp và người dân chưa quan tâm sử dụng, Cơ sở hạ tầng viễn thông tại trung tâm các xã khu vực nông thôn, vùng biên giới đã được đầu tư xây dựng tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn sự chênh lệch lớn về mức hưởng thụ và tiếp cận thông tin giữa các khu vực trên địa bàn các xã, vẫn tồn tại một số vùng lõm không có sóng di động. Còn 10 xã/222 xã chưa có kết nối Internet hữu tuyến đến trung tâm xã, trong đó có 01 xã (KonPne - huyện Kbang) chưa có cáp quang kéo tới xã, mới chỉ có sóng di động 2G. Việc duy trì điểm BĐVHX gặp nhiều khó khăn, thách thức. Chất lượng dịch vụ thư công ích hiện nay rất khó theo dõi về mặt thời gian toàn trình, do việc gửi thư thường theo quy định không có sổ theo dõi, không có bút tích ký gửi và ký nhận. Công tác quản lý thuê bao di động trả trước đã được tăng cường nhưng vẫn còn nhiều bất cập, quản lý chưa triệt để; một số đối tượng đã sử dụng thuê bao di động trả trước để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Tình trạng SIM kích hoạt trước vẫn còn lưu thông trên thị trường, thông tin cá nhân của thuê bao di động trả trước không chính xác. Số lượng xã, phường có đài truyền thanh không dây còn thấp (149/222), nhiều đài truyền thanh được đầu tư trước đó đã xuống cấp, hư hỏng. Đội ngũ cán bộ làm công tác tại các đài truyền thanh cơ sở còn yếu và thiếu. Chất lượng phủ sóng tuyên truyền đến các xã vùng, sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa cao. Trong công tác thông tin đối ngoại, một số đơn vị chưa bố trí cán bộ phụ trách công tác này. Công tác tuyên truyền miệng thông qua lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên các huyện còn yếu, nội dung thông tin chưa phong phú, sức thuyết phục không cao; một số cán bộ làm công tác tuyên truyền đối ngoại không biết ngoại ngữ, không biết tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác tuyên truyền đối ngoại. Trang thông tin điện tử của một số sở, ngành và các huyện, thị xã, thành phố nội dung  tuyên truyền đối ngoại chưa phong phú, hấp dẫn. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí còn chưa chặt chẽ; xử lý khủng hoảng truyền thông chưa hiệu quả và kịp thời; Việc thực hiện Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ 01/01/2017) và các văn bản hướng dẫn liên quan chưa được các cơ quan, đơn vị, địa phương và các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh quán triệt đầy đủ.
     Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục dần những tồn tại hạn chế, năm 2018, ngành thông tin đã xác định một số nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời có những giải pháp phối hợp để thực hiện như:
            Một là, tham mưu UBND tỉnh hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về ứng dụng CNTT phục vụ cải cách hành chính; Duy trì quản lý, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng các hệ thống thông tin của tỉnh đã đầu tư; triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ/dự án đã được ghi vốn, trong đó chú ý nội dung ứng dụng CNTT phục vụ giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai liên thông; kế hoạch ứng phó sự cố an toàn thông tin mạng trên địa bàn tỉnh Gia Lai; triển khai dự án: Xây dựng dữ liệu thông tin địa lý trên nền hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ quản lý nhà nước tỉnh Gia Lai; sử dụng văn bản điện tử (có chữ ký số), hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống một cửa điện tử, phần mềm Quản lý giao việc; các hoạt động của Ban Chỉ đạo ứng dụng CNTT các cấp; ...
            Hai là, tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, hoạt động in ấn, photocopy, phát hành; thực hiện tốt Quy chế cung cấp thông tin và phát ngôn cho báo chí; đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại; phối hợp với Sở TT&TT tích cực đấu tranh với các thông tin phản động, xuyên tạc, gây mất uy tín địa phương.
       Ba là, triển khai thực hiện Quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động tỉnh Gia Lai đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 đã được UBND tỉnh phê duyệt; đồng thời hoàn thiện việc điều chỉnh quy hoạch phát triển Bưu chính, Viễn thông tỉnh Gia Lai đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 . Có biện pháp đẩy nhanh việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại, an toàn có dung lượng lớn, tốc độ cao, vùng phủ sóng rộng đến vùng sâu, vùng xa, …vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; chú trọng công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; Đề xuất Bộ TT&TT triển khai đầu tư hạ tầng viễn thông băng rộng cho 10 xã trên địa bàn tỉnh chưa có kết nối Internet hữu tuyến.
            Bốn là, hỗ trợ, tạo điều kiên các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển, cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ thông qua công tác thanh tra, kiểm tra xử lý quyết liệt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như các chương trình khuyến mãi, việc phát triển thuê bao di động trả trước.               
            Năm là, Sở TT&TT phối hợp với các cơ quan/đơn vị thuộc Bộ TT&TT tham mưu UBND tỉnh phối hợp với Bộ TT&TT phát hành đặc biệt Bộ tem Động vật Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh vào tháng 8 năm 2018 tại Gia Lai; Quản lý hoạt động bưu chính công ích, tăng cường công tác kiểm tra hoạt động bưu chính trên địa bàn; tham mưu UBND tỉnh giám sát, triển khai hiệu quả Chương trình viễn thông công ích đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
            Sáu là, tổ chức thực hiện Tiêu chí số 8 về Thông tin và Truyền thông, trong đó UBND các địa phương bố trí kinh phí thực hiện nội dung “Tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở” theo quy định tại Điều 8 – Thông tư số 05/2017/TT-BTTTT ngày 02/6/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông; tổ chức thực hiện tốt nội dung “Giảm nghèo về thông tin” trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững;
 
       Bảy là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương để mở rộng đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng phục vụ và đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ; tạo mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh lành mạnh; các đơn vị/doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực TT&TT trên địa bàn bám sát các chương trình, nhiệm vụ, chỉ tiêu của tỉnh và của Tập đoàn, Tổng Công ty để xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch năm 2018, phấn đấu tốc độ tăng trưởng năm 2018 cao hơn năm 2017; phục vụ tốt nhu cầu thông tin liên lạc của người dân, chú ý vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời tích cực phối hợp với các địa phương thực hiện tốt công tác xã hội, nhân đạo, góp phần vào nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh./.
Trần Thị Huệ - TP. KHTC Sở TT&TT Gia Lai
 


Default news teaser image
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ PHÊ DUYỆT CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP CNTT GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
Ngày 30/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 153/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu công nghệ thông tin (CNTT) giai đoạn 2016 – 2020.
 

Hành trình về nguồn tại xã Krong, huyện Kbang,  tỉnh Gia Lai
Hành trình về nguồn tại xã Krong, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
Nhằm ôn lại truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta, đồng thời tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa của quê hương, và khơi dậy trong tuổi trẻ niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng, dân tộc, ngày 13/01/2018, Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai - Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai tổ chức các hoạt động về nguồn đầy ý nghĩa tại xã Krong, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Tham gia hoạt động về nguồn có Ban Giám đốc Sở TT&TT, BCH CĐCS Sở TT&TT; đại diện Lãnh đạo Huyện ủy Kbang, đại diện Lãnh đạo UBND huyện Kbang, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Kbang, UBND xã Krong huyện Kbang và toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trung tâm CNTT&TT.


Default news teaser image
Triển khai thí điểm mô hình tổ chức, hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tập trung của tỉnh
Cải cách hành chính (CCHC) là nhiệm vụ mang tính thường xuyên, lâu dài. Thực hiện tốt nhiệm vụ này không chỉ đóng góp cho sự phát triển chung mà trên hết, đó là hướng đến phục vụ người dân được tốt hơn. Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành cấp tỉnh là xu thế tất yếu theo lộ trình CCHC của Trung ương và của tỉnh.


Hội thao khối thi đua các sở, ngành kinh tế năm 2017
Hội thao khối thi đua các sở, ngành kinh tế năm 2017
Nhằm tạo không khí không khí thi đua sôi nổi trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các đơn vị thành viên thuộc Khối thi đua các sở, ngành Kinh tế, đồng thời chào mừng các ngày Lễ lớn trọng đại của đất nước và tạo ra một sân chơi thể thao chung nhằm tăng cường sức khỏe và động viên khích lệ CBCCVC và người lao động của các sở, ngành trong Khối, Khối thi đua đã ban hành Kế hoạch số 1875/KH/KTĐ ngày 11/8/2017 “Về việc tổ chức Hội thao Khối thi đua các sở, ngành kinh tế năm 2017”.


Triển khai thực hiện Dự án: Xây dựng hệ thống mạng diện rộng (WAN) ...
Triển khai thực hiện Dự án: Xây dựng hệ thống mạng diện rộng (WAN) tỉnh Gia Lai
Hiện nay, tại các Sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Gia Lai đã triển khai kết nối mạng nội bộ (mạng LAN) và các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ việc quản lý, điều hành tại đơn vị mình như: Hệ thống một cửa điện tử, hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống hội nghị truyền hình, … Để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin khi trao đổi thông tin, văn bản liên thông giữa các đơn vị trong tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã cho phép xây dựng và thực hiện Dự án: Xây dựng hệ thống mạng diện rộng (WAN) tỉnh Gia Lai (Dự án xây dựng mạng WAN) để kết nối các đơn vị lại với nhau dựa trên mạng truyền số liệu chuyên dụng của tỉnh Gia Lai theo chỉ đạo của Chính phủ nhằm thống nhất dùng mạng truyền số liệu chuyên dùng trong kết nối, liên thông văn bản điện tử


Default news teaser image
Gia Lai: Hội nghị trực tuyến về chỉ số cải cách hành chính
Sáng 26-7, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn tỉnh để đánh giá, rút kinh nghiệm về chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2016. Đồng chí Võ Ngọc Thành-Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh dự và chủ trì hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đại diện Thường trực HĐND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành… 


 |<  < 1 2  >  >|